Trong hội thảo có sự tham gia của hàng trăm các tướng lĩnh, các cựu chiến binh, đồng thời cũng có nhiều bài viết, bài phát biểu tham gia hội thảo của các tướng lĩnh, các cựu chiến binh như: Trung tướng Khuất Việt Dũng – Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Trung tướng Trần Bá Thiều – Nguyên Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chính Trị TC03 Bộ Công An, Anh Hùng Lao Động, thương binh 1/4 Trần Hồng Quảng – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp của Thương binh và Người khuyết tật Việt Nam và nhiều bài viết, bài phát biểu của các cựu chiến binh khác. Qua các bài viết và các bài phát biểu, chúng tôi xin tổng kết sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách cho người có công với cách mạng. Có những giá trị mà không một phép tính ngân sách nào đo hết.

Độc lập, chủ quyền, hòa bình và cuộc sống hôm nay được dựng lên từ trí tuệ, mồ hôi, máu và sự hy sinh của nhiều thế hệ. Bởi vậy, chính sách đối với người có công với cách mạng chưa bao giờ là một chính sách an sinh xã hội thông thường. Đó là sự ghi nhận của Nhà nước và xã hội đối với những cống hiến đặc biệt cho Tổ quốc, đồng thời là trách nhiệm chính trị, pháp lý và đạo lý mà cả một dân tộc tự nhận về mình.
Ngày 24/7/2026, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ký ban hành Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Đây không phải một lần sửa đổi mang tính kỹ thuật. Lần này, mục tiêu bảo đảm mức sống của người có công được nâng từ “bằng hoặc cao hơn mức trung bình” lên “từ mức trung bình khá trở lên” so với cộng đồng dân cư nơi cư trú. Khoảng 85.578 người thuộc các nhóm làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo, làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào và Campuchia được đưa vào diện xem xét công nhận. Khoảng 151.222 thương binh, bệnh binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 80% chuyển từ điều dưỡng hai năm một lần sang điều dưỡng hằng năm. 793 cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa được bổ sung trợ cấp người phục vụ và bảo hiểm y tế cho người phục vụ. Thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên khi từ trần được xem xét công nhận liệt sĩ mà không kèm điều kiện khác. Và lần đầu tiên, người có công thiếu hồ sơ vẫn có thể được xem xét công nhận nếu có căn cứ thực tiễn, căn cứ lịch sử rõ ràng.
Những con số ấy nói lên một điều: chính sách đang đi từ chỗ ghi nhận về nguyên tắc sang chỗ chạm được vào từng hoàn cảnh cụ thể. Đó là hướng đi đúng và là kết quả của một quá trình lãnh đạo nhất quán. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: chăm lo, thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là bổn phận, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, không phải công việc của riêng một ngành hay một dịp kỷ niệm nào.
Nhưng mỗi lần sửa luật cũng là một dịp để đặt ra câu hỏi rộng hơn: trong một Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, chúng ta phải tri ân những người có công như thế nào để chính sách vừa đúng, vừa công bằng, vừa thực sự đi vào cuộc sống và có khả năng kế thừa qua các thế hệ?
Kinh nghiệm quốc tế cũng chỉ về cùng một hướng. Hoa Kỳ, bên cạnh trợ cấp cho cựu chiến binh, còn duy trì chương trình hỗ trợ người chăm sóc thuộc Bộ Cựu chiến binh, trả trợ cấp hằng tháng trực tiếp cho thân nhân trực tiếp chăm sóc thương binh nặng - thừa nhận rằng gánh nặng chiến tranh không dừng lại ở người lính. Việc Pháp lệnh 05/2026/UBTVQH16 bổ sung trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người phục vụ là bước đi đầu tiên theo hướng đó, đây là một trong những sửa đổi giàu ý nghĩa nhất của lần này. Tất nhiên, chính sách càng toàn diện càng đòi hỏi nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện. Vì vậy, không thể chỉ hỏi “có nên thêm chế độ hay không”, mà phải đồng thời trả lời: nguồn lực ở đâu, ưu tiên nhóm nào, tổ chức thực hiện thế nào, và làm sao để mỗi đồng ngân sách dành cho người có công tạo ra hiệu quả xã hội cao nhất. Đây cũng là yêu cầu của quản trị hiện đại: nâng chất lượng chính sách không nhất thiết chỉ bằng tăng tiền. Cải cách thủ tục, liên thông dữ liệu, nâng cao chất lượng y tế cơ sở, phát triển dịch vụ chăm sóc tại nhà và đưa dịch vụ đến gần người thụ hưởng - đó cũng chính là nâng chất lượng ưu đãi.
Cả nước hiện có khoảng 9,2 triệu người có công với cách mạng, trong đó khoảng 1,2 triệu người đang hưởng trợ cấp hằng tháng; hơn 1,2 triệu liệt sĩ, khoảng 140.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và khoảng 600.000 thương binh, bệnh binh. Trong khối lượng ấy, có những nhóm trực tiếp tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế đang hưởng chính sách theo những quyết định khác nhau của Nhà nước ở những thời kỳ khác nhau. Nhiều người trong số họ nay đã tuổi cao, sức khỏe giảm sút, đời sống còn khó khăn, và có những kiến nghị đề nghị tiếp tục hoàn thiện chính sách. Đó là những nguyện vọng có cơ sở về tình cảm và đạo lý. Từ đó chúng tôi cho rằng pháp lệnh người có công với cách mạng cần được tiếp tục bổ sung hoàn thiện một số vấn đề như sau:
1. Cần nghiên cứu mở rộng đối tượng được xác nhận là người có công
Một trong những vấn đề cần được đặt ra trong quá trình tiếp tục hoàn thiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng là nghiên cứu mở rộng phạm vi những người có công thực sự với đất nước nhưng chưa được nhận diện hoặc chưa được pháp luật ghi nhận đầy đủ.
Trong nhận thức xã hội, khi nói đến những người đã hy sinh trong chiến tranh, nhiều khi chúng ta hình dung trước hết đến những người mặc quân phục, trực tiếp cầm súng chiến đấu. Cách nhìn đó là chưa đầy đủ. Trong các cuộc kháng chiến và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có rất nhiều người không trực tiếp cầm súng nhưng đã thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, góp phần trực tiếp vào sự nghiệp chiến đấu và bảo vệ đất nước.
Đó có thể là:
- Thanh niên xung phong, những người du kích;
- Công nhân, cán bộ, nhân viên giao thông vận tải bảo đảm các tuyến đường chiến lược;
- Người làm công tác thông tin, liên lạc;
- Bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ lý và nhân viên y tế phục vụ tại chiến trường;
- Cán bộ, nhân viên dân sự trực tiếp phục vụ chiến đấu;
- Thầy giáo, cô giáo hoạt động tại những vùng chiến tranh ác liệt;
- Văn nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên và những người hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ chiến trường;
- Những người làm nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, cứu thương, vận tải và các nhiệm vụ phục vụ trực tiếp cho chiến đấu;
- Những người đã hy sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt vì đất nước nhưng hồ sơ, tài liệu lịch sử chưa được hoàn chỉnh, và những người tham gia các công việc khác nhau phục vụ chiến tranh.
Do đó, cần nghiên cứu lại cách tiếp cận về “người có công”, không chỉ dựa vào hình thức thực hiện nhiệm vụ mà cần xem xét bản chất của sự cống hiến, mức độ nguy hiểm, tính trực tiếp của nhiệm vụ đối với sự nghiệp chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc và sự hy sinh thực tế của cá nhân. Đây không phải là mở rộng chính sách một cách tràn lan, mà là khắc phục những khoảng trống lịch sử và pháp lý đối với những người thực sự có công nhưng chưa được nhận diện đầy đủ. Trong tất cả những con người nêu trên, dù ở cương vị nào, vị trí công tác nào khi đã hi sinh đều có thể được nhà nước phong tặng bằng “ Tổ quốc ghi công”. Nếu họ bị thương tật mà sức khỏe được xác định đủ tiêu chuẩn là thương binh, bệnh binh để được nhà nước ghi nhận và có chế độ được quy định.
Nhưng có điều đặc biệt trong số những con người đó, họ là những người sống sót cho đến kết thúc chiến tranh, thậm chí họ là những người đã từng “ chôn đồng đội hi sinh”, đưa tiễn những người thương binh trả về hậu phương. Khi kết thúc chiến tranh họ trở về mặc dù trên mình mang thương tật, sức ép của bom đạn nhưng chưa đủ tiêu chí để trở thành bệnh binh, thương binh và họ không được hưởng chế độ gì. Nhưng theo định nghĩa về người có công với cách mạng thì họ có thể là người có công? thậm chí cũng với những người nêu trên có nhiều người có thành tích chiến đấu dũng cảm họ được tặng những phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước như: Huân chương chiến công, huân chương chiến sĩ vẻ vang,...liệu họ có được xác nhận là người có công không? Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng cần phải xem xét công lao của họ để được nhà nước ghi nhận như những người có công.
Có những chàng trai, những cô gái thanh niên xung phong, ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ bám sát từng con đường, kiên cường hứng chịu hàng ngàn trận mưa bom, bão đạn để giữ cho mạch máu giao thông luôn thông suốt cho các đoàn quân và hàng ngàn chuyến xe thẳng tiến vào chiến trường.
Kết thúc chiến tranh, họ may mắn trở về với cuộc sống đời thường dù còn lắm gian truân, vất vả; thậm chí có những người phụ nữ chấp nhận hy sinh cả hạnh phúc cá nhân, sống trọn đời cô đơn. Sự hy sinh thầm lặng ấy lẽ nào không đáng được ghi nhận như những người có công? Những chiến sĩ ngành y, lực lượng an ninh, hay các thầy cô giáo… từng nhiều năm cống hiến ở những vùng chiến sự ác liệt, khi trở về giữa thời bình, liệu họ có được xem là người có công với đất nước?
Xác định người có công chính là ghi nhận sự cống hiến của từng cá nhân trên từng lĩnh vực phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đã đến lúc đất nước cần có những chính sách công nhận xứng đáng, mang lại sự tri ân và tự hào cho cuộc sống của họ.
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc công nhận này tuy giản dị nhưng lại tạo ra động lực tinh thần to lớn. Tinh thần ấy giúp các thế hệ tiếp nối nhân lên niềm tự hào, tiếp tục lao động và cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Quan trọng hơn, đó chính là cội nguồn sức mạnh để thế hệ trẻ sẵn sàng đáp lời sông núi, vững vàng bảo vệ Tổ quốc trước mọi nguy cơ xâm lược.
2. Xác nhận người có công và liệt sĩ phải dựa trên hệ thống chứng cứ tổng hợp
Một vấn đề cần được đổi mới mạnh mẽ là phương thức xác nhận. Sau nhiều thập kỷ, nhiều hồ sơ chiến tranh đã bị thất lạc, hư hỏng hoặc không còn đầy đủ. Nhiều nhân chứng lịch sử đã qua đời; những người còn sống cũng ngày càng cao tuổi. Trong nhiều trường hợp, việc yêu cầu gia đình cung cấp đầy đủ các loại giấy tờ như trong điều kiện bình thường là không còn phù hợp với thực tế lịch sử. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy “không đủ hồ sơ thì không xác nhận” sang tư duy “tổng hợp, thẩm định và đánh giá toàn diện các nguồn chứng cứ”.
Nguồn chứng cứ cần được xem xét có thể bao gồm:
- Hồ sơ, tài liệu của quân đội và cơ quan nhà nước;
- Hồ sơ của đơn vị, tổ chức trực tiếp quản lý người đã hy sinh;
- Tài liệu lịch sử, bản đồ, nhật ký chiến trường, thư từ, ảnh, kỷ vật;
- Lời khai của nhân chứng lịch sử;
- Thông tin từ đồng đội;
- Thông tin do gia đình và cộng đồng cung cấp;
- Các dữ liệu về địa điểm, thời gian và hoàn cảnh hy sinh;
- Kết quả giám định pháp y, nhân học và ADN;
- Các dữ liệu số được xây dựng, tích hợp từ nhiều nguồn.
Như vậy, ADN phải được coi là một phương pháp khoa học quan trọng, nhưng không nên trở thành điều kiện duy nhất để xác định danh tính trong mọi trường hợp. Cần xây dựng cơ chế đánh giá chứng cứ tổng hợp, trong đó kết luận xác nhận phải dựa trên sự kết hợp giữa chứng cứ lịch sử, chứng cứ hành chính, chứng cứ nhân chứng và chứng cứ khoa học.
3. Trả lại tên cho các Liệt sĩ vô danh phải được xác định là một nhiệm vụ lâu dài của Nhà Nước
Sau gần nửa thế kỷ và trong nhiều trường hợp đã hơn nửa thế kỷ, hàng nghìn hài cốt liệt sĩ vẫn chưa được xác định đầy đủ danh tính. Đây là một vấn đề đặc biệt đau lòng. Một người đã hy sinh vì Tổ quốc nhưng chưa được gọi đúng tên; một gia đình có người thân hy sinh nhưng không biết người đó đang nằm ở đâu; một phần mộ vẫn mang dòng chữ “chưa biết tên” sau hàng chục năm. Về mặt nhân văn, việc tìm kiếm hài cốt mới chỉ là đưa người đã hy sinh về nơi an nghỉ. Xác định được danh tính và trả lại tên tuổi mới thực sự là đưa họ trở về với gia đình và lịch sử.
Vì vậy, cần xác định mục tiêu:
“Mỗi liệt sĩ phải được trả lại tên, quê quán và thân phận lịch sử nếu còn khả năng xác định.”
Trong quá trình này, cần tiếp tục ứng dụng ADN và các thành tựu khoa học mới. Đồng thời phải đặc biệt coi trọng việc khai thác chứng cứ lịch sử, nhân chứng, hồ sơ chiến tranh và các nguồn thông tin xã hội. Không thể để yêu cầu về thủ tục hành chính trở thành rào cản cuối cùng đối với một người đã hy sinh cho đất nước.
Cần nghiên cứu cơ chế đặc thù để xử lý các trường hợp:
- Có nhiều nguồn chứng cứ phù hợp nhưng thiếu một loại giấy tờ theo quy định;
- Có nhân chứng lịch sử nhưng nhân chứng không còn khả năng cung cấp tài liệu chính thức;
- Có thông tin về địa điểm hy sinh nhưng chưa có hồ sơ quân nhân đầy đủ;
- Có hài cốt nhưng mẫu ADN không còn khả năng giám định;
- Không có thân nhân trực hệ để đối chiếu ADN;
- Có sự phù hợp cao giữa nhiều nguồn chứng cứ nhưng chưa đáp ứng được một điều kiện thủ tục hiện hành.
Mục tiêu cuối cùng không phải là hoàn thành một con số hành chính, mà là trả lại tên cho từng con người cụ thể.
4. Chiến dịch 500 ngày đêm cần được phát triển thành chương trình Quốc gia lâu dài
Chiến dịch 500 ngày đêm là một bước đi rất quan trọng và cần được ghi nhận. Tuy nhiên, với quy mô công việc còn lại, không nên coi việc kết thúc 500 ngày đêm là kết thúc nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ. Thực tiễn triển khai cho thấy khối lượng công việc còn rất lớn. Các cơ quan đã bắt đầu sử dụng nền tảng số để số hóa hồ sơ, quản lý thông tin mộ, tiếp nhận nguồn tin của nhân dân và kết nối dữ liệu phục vụ xác định danh tính.
Vì vậy, sau Chiến dịch 500 ngày đêm cần nghiên cứu xây dựng Chương trình quốc gia dài hạn về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, có thể thực hiện theo các giai đoạn 5 năm, 10 năm và tiếp tục cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ.
Chương trình phải có:
- Cơ quan đầu mối thống nhất;
- Bộ máy chuyên trách;
- Nhân lực chuyên môn;
- Cơ sở dữ liệu quốc gia;
- Cơ chế phối hợp liên ngành;
- Kinh phí ổn định, lâu dài;
- Chỉ tiêu và kế hoạch hằng năm;
- Cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả;
- Cơ chế tiếp nhận thông tin từ nhân dân, cựu chiến binh và nhân chứng lịch sử.
Đồng thời, cần nghiên cứu tổ chức mạng lưới thực hiện từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm sự phối hợp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Công an, chính quyền địa phương và các cơ quan khoa học có liên quan.
5. Xây dựng cơ sở dữ liệu Quốc gia về người có công và liệt sĩ
Một nhiệm vụ cần được bổ sung mạnh mẽ là xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về người có công, liệt sĩ, mộ liệt sĩ, thân nhân liệt sĩ và các nguồn chứng cứ lịch sử liên quan. Mỗi trường hợp cần được xây dựng thành một hồ sơ số thống nhất, có khả năng cập nhật lâu dài.
Cơ sở dữ liệu phải kết nối được:
- Hồ sơ người có công;
- Hồ sơ liệt sĩ;
- Thông tin phần mộ;
- Thông tin thân nhân;
- Dữ liệu ADN;
- Bản đồ địa điểm hy sinh;
- Tài liệu lịch sử;
- Thông tin nhân chứng;
- Kết quả tìm kiếm, quy tập;
- Kết quả xác minh và xác định danh tính.
Đây sẽ là nền tảng quan trọng để tránh tình trạng một thông tin nằm ở một cơ quan nhưng cơ quan khác không tiếp cận được.
6. Khoảng cách giữa văn bản và cuộc sống
Một chính sách tốt trên văn bản chưa phải là một chính sách tốt trong đời sống. Khoảng cách giữa quyền được hưởng và khả năng tiếp cận quyền đó chính là thách thức lớn nhất của giai đoạn tới. Người có công tuổi cao không thể phải đi lại nhiều lần chỉ để hoàn thiện một thủ tục. Một gia đình chính sách không nên phải tự mình đi tìm hiểu xem mình được hưởng chế độ nào. Một hồ sơ lịch sử phức tạp không thể chỉ được nhìn như một tập giấy tờ thiếu vài chứng nhận, mà phải được đặt trong tổng thể dữ liệu, nhân chứng và hoàn cảnh lịch sử.
Điều này càng cấp thiết khi Pháp lệnh mới được ban hành đúng lúc bộ máy đang vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp và chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này được chuyển giao. Trong giai đoạn chuyển tiếp, rủi ro lớn nhất không phải là thiếu quy định, mà là hồ sơ bị gián đoạn giữa các đầu mối. Vì vậy, cùng với việc triển khai Pháp lệnh, cần chú trọng ba yêu cầu:
Một là, đơn giản hóa thủ tục và đưa dịch vụ đến gần người có công, thay vì để người có công đi tìm chính sách.
Hai là, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, kết nối thông tin giữa các cơ quan để giảm phụ thuộc vào hồ sơ giấy và sự khai báo lặp lại của người dân.
Ba là, xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành và cơ chế kiểm tra kết quả cuối cùng: chính sách đã thực sự đến được với người có công hay chưa.
Kết quả ấy phải được đo bằng đời sống của người thụ hưởng, không phải bằng số văn bản đã ban hành.
Sau tất cả, điều còn lại lâu nhất không phải là hồ sơ, quyết định trợ cấp hay những tấm bằng ghi công. Điều còn lại là ký ức về sự hy sinh ấy có tiếp tục sống trong tâm thức xã hội hay không, và những người đang gánh vác nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hôm nay có tin rằng sự cống hiến của họ sẽ được đất nước ghi nhận hay không.
7. Về vấn đề giáo dục truyền thống
Một học sinh biết tên một liệt sĩ chưa đủ; điều quan trọng là em hiểu vì sao người ấy đã hy sinh. Một người trẻ đến nghĩa trang liệt sĩ chưa đủ; điều quan trọng là họ hiểu rằng hòa bình hôm nay không phải một món quà tự nhiên có được. Giáo dục truyền thống vì thế cần chuyển từ “kể lại lịch sử” sang “làm cho thế hệ sau hiểu giá trị của lịch sử”. Hàn Quốc đã đặt cả nghĩa trang quốc gia lẫn thiết chế giáo dục lịch sử dưới một bộ chuyên trách về người có công, để việc chăm lo và việc truyền ký ức không tách rời nhau. Đó là một cách tổ chức đáng tham khảo. Pháp lệnh là nền tảng pháp lý; chính sách là phương tiện; nhưng văn hóa tri ân mới là đích đến. Một đất nước phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay mức sống, mà còn bằng cách đất nước ấy đối xử với những người đã hy sinh để làm nên độc lập, hòa bình và sự phát triển của mình.
Tuổi thơ của một thế hệ đi vào trận đánh, thế hệ ấy đã thuộc lòng các tác phẩm kinh điển như "Cây tre Việt Nam" của Thép Mới, "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, hay "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo, cùng biết bao bài ca quê hương đất nước. Trong tim họ là niềm tự hào sâu sắc về lịch sử dựng nước và giữ nước, về những người anh hùng thời kỳ kháng chiến chống Pháp: La Văn Cầu kiên cường nhờ chặt đứt cánh tay bị thương để tiếp tục chiến đấu; Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai mở đường cho đồng đội...và biết bao con người khác trong chiến đấu, học tập, lao động sản xuất. Thế hệ đó khi đi vào trận đánh mang theo một niềm tự hào về tấm gương anh hùng dân tộc.
Những hình ảnh ấy đã thấm sâu vào máu thịt của bao thế hệ. Chúng lớn lên cùng họ qua từng bài tập đọc, bài văn, bài lịch sử thuở cắp sách đến trường—từ mái trường tiểu học cho đến tận trung học. Nguồn sống ấy là ngọn lửa thúc đẩy các thế hệ nối tiếp sống, cống hiến và chiến đấu với trọn vẹn niềm tự hào cùng lòng biết ơn sâu sắc hướng về người đi trước.
Những năm gần đây, hình ảnh đó, những bài học đó dần mất đi trong những trang sách của trường học cấp phổ thông, thậm trí cùng với việc giáo dục theo kiểu thành tích dẫn đến nhiều người trong thế hệ tiếp theo họ không hiểu được, họ đang được sống, hưởng thụ, thành đạt như hôm nay là do bao con người đã ngã xuống. Máu, nước mắt, mồ hôi của bao thế hệ đã làm nên đất nước của ngày hôm nay.
Ngành giáo dục suy nghĩ gì trong việc giáo dục truyền thống dân tộc sau mỗi lần thay sách giáo khoa?
Giáo dục truyền thống, chăm lo người có công vì thế không chỉ là thực hiện một chính sách. Đó là cách một quốc gia giữ lấy phẩm giá của chính mình.
TS Phạm Gia Yên
Viện nghiên cứu pháp luật và chính sách doanh nghiệp
(Tổng hợp và ghi chép)