
Tuyên Quang là địa phương có quy mô tài nguyên rừng lớn; tuy nhiên, quy mô diện tích và tỷ lệ che phủ cao chưa đồng nghĩa với khả năng tạo ra giá trị kinh tế tương xứng. Hiệu quả của kinh tế rừng còn phụ thuộc vào chất lượng rừng, năng suất, chu kỳ kinh doanh, trình độ chế biến, khả năng tiếp cận thị trường và mức độ khai thác các giá trị ngoài gỗ. Vì vậy, vấn đề trọng tâm không chỉ nằm ở việc duy trì diện tích rừng, mà còn ở khả năng chuyển hóa tài nguyên rừng thành giá trị gia tăng, thu nhập và sinh kế bền vững trong khi vẫn bảo đảm các chức năng sinh thái. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng phát triển lâm nghiệp của Việt Nam. Luật Lâm nghiệp năm 2017 xác định, lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật, bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản(1). Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050(2) và Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050(3) tiếp tục nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng rừng, giá trị gia tăng, năng lực chế biến và khai thác đồng thời các giá trị kinh tế, xã hội và môi trường của hệ sinh thái rừng.
Các nghiên cứu về lâm nghiệp Việt Nam cho thấy, gia tăng diện tích rừng không nhất thiết đi cùng với cải thiện tương ứng về chất lượng rừng và các chức năng hệ sinh thái(4). Đối với rừng trồng sản xuất, giá trị kinh tế chịu ảnh hưởng đáng kể bởi chất lượng nguyên liệu, chu kỳ khai thác, mức độ chế biến và tổ chức chuỗi giá trị. Nghiên cứu về các chuỗi giá trị gỗ keo cho thấy sản xuất gỗ lớn và chế biến sản phẩm có giá trị cao có thể cải thiện hiệu quả kinh tế so với mô hình nguyên liệu chu kỳ ngắn(5), nhưng đòi hỏi vốn dài hạn hơn, năng lực kỹ thuật, liên kết thị trường và cơ chế quản trị rủi ro phù hợp(6). Bên cạnh đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo thêm nguồn lực tài chính cho quản lý và bảo vệ rừng tại Tuyên Quang(7). Do đó, đánh giá kinh tế rừng cần tiếp cận toàn bộ chuỗi tạo giá trị thay vì chỉ dựa trên diện tích rừng hoặc sản lượng khai thác.
Đối với Tuyên Quang, việc sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang thành tỉnh Tuyên Quang mới theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 đã làm thay đổi đáng kể quy mô, tài nguyên và phạm vi quản trị của tỉnh(8). Theo công bố hiện trạng rừng năm 2025, đến ngày 31-12-2025, toàn tỉnh có 858.397,61 ha rừng, gồm 624.202,48 ha rừng tự nhiên và 234.195,13 ha rừng trồng đủ tiêu chí thành rừng; tỷ lệ che phủ đạt 62,2%(9). Nguồn lực này tạo điều kiện để phát triển sản xuất lâm nghiệp, chế biến lâm sản, kinh tế dưới tán rừng và các dịch vụ hệ sinh thái. Đồng thời, phạm vi quản trị mới làm gia tăng yêu cầu đối với tổ chức vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi giá trị, hạ tầng - logistics, nguồn vốn, công nghệ và hệ thống quản trị lâm nghiệp.
Tiềm năng lớn nhưng giá trị chưa tương xứng
Về quy mô tài nguyên rừng và độ che phủ
Theo kết quả công bố hiện trạng rừng năm 2025, tính đến ngày 31-12-2025, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh Tuyên Quang đạt 1.027.321,78ha. Trong số này, diện tích có rừng là 858.397,61ha, bao gồm 624.202,48ha rừng tự nhiên và 234.195,13ha rừng trồng đủ tiêu chí thành rừng; diện tích chưa thành rừng là 168.924,17ha(10). Như vậy, rừng tự nhiên chiếm khoảng 72,7% diện tích có rừng, trong khi rừng trồng chiếm khoảng 27,3%. Tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 62,2%, thuộc nhóm cao của cả nước. Phân theo mục đích sử dụng, diện tích thuộc quy hoạch ba loại rừng đạt 1.008.064,35ha, gồm 106.043,77ha rừng đặc dụng, 352.643,73ha rừng phòng hộ và 549.376,85ha rừng sản xuất; ngoài ra còn 19.257,44ha nằm ngoài quy hoạch ba loại rừng. Cơ cấu này cho thấy, hơn một nửa diện tích thuộc quy hoạch lâm nghiệp được bố trí cho chức năng sản xuất, đồng thời một tỷ trọng lớn được dành cho phòng hộ và bảo tồn. Đây là đặc điểm quan trọng khi xác định mô hình phát triển kinh tế rừng của tỉnh: Mục tiêu nâng cao giá trị kinh tế phải được đặt trong quan hệ với yêu cầu duy trì chức năng phòng hộ, bảo tồn và ổn định hệ sinh thái.
Diện tích rừng sản xuất trên 549 nghìn héc-ta tạo cơ sở hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và phát triển rừng trồng theo hướng nâng cao giá trị. Ngược lại, quy mô đáng kể của rừng phòng hộ và rừng đặc dụng cho thấy một phần lớn vốn rừng của tỉnh thực hiện các chức năng không thể đánh giá đầy đủ bằng sản lượng gỗ, như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì cảnh quan. Các khu vực rừng có giá trị bảo tồn như Tây Côn Lĩnh và Na Hang - Lâm Bình là những ví dụ điển hình về sự kết hợp giữa chức năng bảo tồn, sinh thái và tiềm năng phát triển các dịch vụ dựa vào hệ sinh thái. Tuy nhiên, diện tích và tỷ lệ che phủ không phải là chỉ báo đầy đủ về chất lượng rừng. Nghiên cứu về quá trình chuyển đổi rừng tại Việt Nam cho thấy, sự gia tăng diện tích có rừng có thể diễn ra đồng thời với sự thay đổi về mật độ, cấu trúc và mức độ toàn vẹn của hệ sinh thái; do đó, phục hồi về diện tích không nhất thiết đồng nghĩa với phục hồi đầy đủ các chức năng sinh thái(4). Đối với Tuyên Quang, điều này hàm ý rằng lợi thế về quy mô cần được đánh giá cùng với trữ lượng, cấu trúc rừng, mức độ tái sinh, năng suất và các chỉ báo về tình trạng hệ sinh thái. Như vậy, Tuyên Quang có nền tảng tài nguyên rừng lớn cả về diện tích có rừng và diện tích đất dành cho lâm nghiệp. Tuy nhiên, quy mô tài nguyên mới phản ánh điều kiện đầu vào; khả năng chuyển hóa nguồn lực này thành giá trị kinh tế bền vững phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng rừng, cơ cấu sử dụng, phương thức quản lý và hiệu quả của chuỗi giá trị lâm nghiệp.
Về chất lượng rừng và quản lý rừng bền vững
Chất lượng rừng cần được đánh giá khác nhau giữa rừng tự nhiên và rừng trồng sản xuất. Đối với rừng tự nhiên, các chỉ tiêu quan trọng bao gồm trữ lượng, cấu trúc tầng tán, mức độ tái sinh, tính liên tục của sinh cảnh và tình trạng bảo tồn đa dạng sinh học. Đối với rừng trồng, chất lượng gắn nhiều hơn với nguồn giống, năng suất, mật độ, chu kỳ kinh doanh, kích thước và phẩm cấp gỗ. Trong khi đó, chứng chỉ quản lý rừng bền vững phản ánh mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn quản lý, môi trường và xã hội, không phải là chỉ báo trực tiếp thay thế cho chất lượng sinh học hoặc chất lượng gỗ của lâm phần. Đối với rừng trồng sản xuất, một chuyển dịch đáng chú ý của Tuyên Quang là phát triển rừng gỗ lớn. Theo số liệu công bố đầu năm 2026 về kết quả thực hiện đến năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 81.000ha rừng gỗ lớn. Đồng thời, tỉnh tiếp tục triển khai cải thiện giống, phát triển vườn ươm công nghệ cao và chuyển hóa một phần rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn nhằm nâng cao chất lượng nguyên liệu cho chế biến(11).
Phát triển rừng gỗ lớn có khả năng nâng cao tỷ lệ gỗ xẻ và mở rộng nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm chế biến có giá trị cao hơn so với mô hình khai thác chủ yếu cho dăm gỗ. Tuy nhiên, chuyển sang chu kỳ kinh doanh dài không chỉ tạo ra lợi ích mà còn làm tăng thời gian thu hồi vốn và mức độ phơi nhiễm trước rủi ro thiên tai, thị trường và biến động tài chính. Các nghiên cứu đối với hộ trồng keo tại Việt Nam cho thấy, việc kéo dài chu kỳ để sản xuất gỗ lớn có thể tạo mức sinh lợi cao hơn trong một số điều kiện, nhưng việc áp dụng phụ thuộc đáng kể vào khả năng tiếp cận vốn, kỹ thuật lâm sinh, quản lý rủi ro và năng lực của hộ trồng rừng(12). Vì vậy, diện tích rừng gỗ lớn nên được xem là chỉ báo về sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất, hơn là bằng chứng độc lập về hiệu quả kinh tế hoặc chất lượng tổng thể của rừng. Cùng với phát triển rừng gỗ lớn, diện tích được quản lý theo các hệ thống chứng chỉ đã được mở rộng. Đến năm 2025, tỉnh có 84.654 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế FSC/PEFC (10); ngoài ra còn diện tích được chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc gia. Các báo cáo địa phương cũng sử dụng chỉ tiêu “hơn 89.094 lượt ha” được cấp chứng chỉ, trong đó bao gồm cả cấp mới và cấp lại. Do đó, khi phân tích quy mô thực tế, cần phân biệt giữa “diện tích” và “lượt diện tích được chứng nhận” để tránh tính trùng.
Việc mở rộng chứng chỉ có ý nghĩa đối với chuẩn hóa quy trình quản lý, truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng các yêu cầu về tính hợp pháp và bền vững của nguyên liệu. Tuy nhiên, không nên xem chứng chỉ FSC/PEFC như một bảo đảm tự động về giá bán hoặc khả năng xuất khẩu. Kết quả nghiên cứu tại miền Trung Việt Nam cho thấy, chuỗi sản phẩm đồ gỗ sử dụng nguyên liệu FSC tạo giá trị gia tăng cao hơn đáng kể so với chuỗi dăm gỗ trong trường hợp nghiên cứu, nhưng kết quả này gắn với cả cấu trúc chế biến, sản phẩm cuối cùng và mức độ phối hợp giữa các tác nhân trong chuỗi, chứ không chỉ riêng yếu tố chứng chỉ(13). Đối với hơn 624 nghìn ha rừng tự nhiên của tỉnh, bằng chứng hiện có cho phép xác định rõ quy mô nhưng chưa đủ để đưa ra kết luận tổng quát về chất lượng sinh thái. Những chỉ tiêu như trữ lượng bình quân, cấu trúc đường kính, mức độ tái sinh, phân mảnh sinh cảnh và xu hướng suy thoái hoặc phục hồi cần được phân tích ở cấp độ phù hợp trước khi đánh giá chất lượng rừng tự nhiên. Sự hiện diện của các khu bảo tồn có giá trị đa dạng sinh học cao như Tây Côn Lĩnh và Na Hang - Lâm Bình cho thấy vai trò bảo tồn đáng kể của một bộ phận rừng tự nhiên, nhưng không thể được dùng để suy rộng cho toàn bộ diện tích rừng tự nhiên của tỉnh.
Về công nghiệp chế biến và chuỗi giá trị lâm sản
Đến năm 2025, Tuyên Quang có trên 500 cơ sở chế biến gỗ, trong đó có 8 doanh nghiệp quy mô lớn với công suất khoảng 20.000 - 130.000 m³/năm. Sản phẩm chế biến gồm gỗ xẻ, gỗ bóc, ván thanh, ván ép, đồ nội thất và viên nén; một số sản phẩm đã được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu và các thị trường châu Á. Tỉnh cũng ghi nhận một số doanh nghiệp thực hiện liên kết trồng rừng và bao tiêu nguyên liệu với người dân(14). Những số liệu này cho thấy, Tuyên Quang đã hình thành năng lực chế biến tương đối lớn và có sự kết nối nhất định giữa vùng nguyên liệu với thị trường.
Tuy nhiên, quy mô cơ sở và công suất chế biến chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của chuỗi giá trị. Giá trị kinh tế phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm, tỷ lệ nguyên liệu được đưa vào chế biến sâu, hiệu suất sử dụng gỗ và khả năng phân phối giá trị giữa chủ rừng, doanh nghiệp chế biến và các tác nhân thị trường. Nghiên cứu về chuỗi gỗ keo tại Việt Nam cho thấy chuỗi sản phẩm đồ gỗ, đặc biệt khi sử dụng nguyên liệu có chứng chỉ, có khả năng tạo giá trị cao hơn chuỗi dăm gỗ; kết quả này đồng thời phụ thuộc vào công nghệ chế biến và tổ chức chuỗi, chứ không chỉ vào nguồn nguyên liệu(15). Do đó, điểm cần quan tâm của công nghiệp chế biến lâm sản Tuyên Quang không chỉ là mở rộng quy mô, mà còn là khả năng dịch chuyển từ cung cấp nguyên liệu và sơ chế sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Dữ liệu công khai hiện chưa đủ để xác định tỷ lệ chế biến sâu, giá trị gia tăng trên một đơn vị gỗ nguyên liệu và mức độ liên kết dài hạn trong toàn chuỗi. Đây là những chỉ tiêu cần được làm rõ khi đánh giá hiệu quả thực chất của kinh tế rừng.
Về kinh tế dưới tán rừng và nông - lâm kết hợp
Kinh tế dưới tán rừng tạo khả năng bổ sung nguồn thu từ dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, nuôi ong, chăn nuôi và các hình thức nông - lâm kết hợp, qua đó đa dạng hóa sinh kế của các hộ sống gắn với rừng. Tại Tuyên Quang, một số địa bàn đã phát triển thảo quả, sa nhân tím và cây dược liệu dưới tán; riêng xã Hồ Thầu được ghi nhận có trên 500 ha thảo quả vào năm 2026(16). Những mô hình này cho thấy, hoạt động sản xuất dưới tán rừng đã hiện diện trong thực tế, nhưng chưa đủ cơ sở để suy rộng về quy mô và hiệu quả của toàn tỉnh. Tiềm năng phát triển lĩnh vực này còn gắn với nguồn tài nguyên thực vật và tri thức bản địa, song tiềm năng sinh học không đồng nghĩa với khả năng thương mại hóa tự động. Khả năng phát triển kinh tế dưới tán thành các chuỗi hàng hóa ổn định phụ thuộc vào lựa chọn loài phù hợp, nguồn giống, quy trình kỹ thuật, quy mô vùng nguyên liệu, sơ chế - chế biến và đầu ra thị trường. Hiện chưa có bộ số liệu thống nhất cho toàn tỉnh về diện tích, sản lượng, giá trị và lợi nhuận của các hoạt động này. Vì vậy, có thể xác nhận tiềm năng và sự tồn tại của các mô hình thực tế, nhưng chưa đủ bằng chứng để xác định mức đóng góp của kinh tế dưới tán rừng vào tổng giá trị kinh tế lâm nghiệp của tỉnh.
Về dịch vụ hệ sinh thái và các giá trị mới của rừng
Phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng là một định hướng chính thức của lâm nghiệp Việt Nam, trong đó bên cạnh gỗ và lâm sản còn có dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái và các giá trị liên quan đến hấp thụ, lưu giữ carbon(17). Đối với Tuyên Quang, mức độ hình thành giá trị kinh tế của các dịch vụ này hiện không đồng đều. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là cấu phần đã hình thành rõ nhất. Năm 2025, trên 642.980ha rừng của tỉnh thuộc diện được chi trả dịch vụ môi trường rừng, với 26 chủ rừng là tổ chức và 53.690 hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tham gia. Tổng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng trong năm đạt trên 184 tỷ đồng(18). Đây là dòng tài chính có thể xác định, gắn trực tiếp lợi ích kinh tế với hoạt động quản lý và bảo vệ rừng.
Du lịch sinh thái gắn với rừng, đặc biệt tại khu vực Na Hang - Lâm Bình, là một hướng mở rộng giá trị ngoài gỗ nhưng hiện chưa có số liệu tách riêng doanh thu và giá trị gia tăng tạo ra trực tiếp từ tài nguyên rừng. Carbon rừng cũng là một hướng phát triển mới nhưng chưa hình thành dòng thu ổn định; việc hình thành tín chỉ còn phụ thuộc vào hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định, tính bổ sung, quyền hưởng lợi và phòng tránh tính trùng. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, carbon rừng nên được xem là tiềm năng kinh tế cần tiếp tục hoàn thiện điều kiện kỹ thuật và thể chế, chưa phải một nguồn thu đã được xác lập.
Nhìn chung, các cấu phần của kinh tế rừng đa giá trị tại Tuyên Quang đang ở những mức độ phát triển khác nhau: Chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo dòng tài chính tương đối rõ; du lịch sinh thái và kinh tế dưới tán đã hình thành các mô hình, sản phẩm nhưng mức đóng góp còn thiếu dữ liệu định lượng; trong khi carbon rừng mới ở giai đoạn chuẩn bị điều kiện kỹ thuật và thể chế. Sự khác biệt này cần được phản ánh khi đánh giá thực trạng và xác định thứ tự ưu tiên chính sách, thay vì coi tất cả các “giá trị mới của rừng” là những nguồn thu đã sẵn sàng khai thác.
Nhận diện các điểm nghẽn cản trở sự bứt phá của kinh tế rừng
Những kết quả trình bày ở phần trên cho thấy, Tuyên Quang có nền tảng tài nguyên rừng lớn, vùng rừng trồng và công nghiệp chế biến tương đối phát triển, đồng thời đã hình thành các mô hình quản lý rừng có chứng chỉ, kinh tế dưới tán và dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, quy mô nguồn lực chưa phản ánh đầy đủ khả năng tạo giá trị của toàn bộ chuỗi kinh tế rừng. Trên cơ sở tổng hợp dữ liệu địa phương, chính sách hiện hành và bằng chứng nghiên cứu, bốn nhóm ràng buộc cần được xem xét, gồm: quy hoạch - đất đai - tổ chức sản xuất; hạ tầng và logistics; vốn và rủi ro; khoa học, công nghệ và dữ liệu.
Điểm nghẽn về quy hoạch, đất đai và liên kết sản xuất
Sau khi tỉnh Tuyên Quang mới được hình thành năm 2025, việc tổ chức lại không gian phát triển và đồng bộ các hệ thống quy hoạch, đất đai và dữ liệu quản lý trở thành một yêu cầu quan trọng. Điểm nghẽn hiện nay không nằm ở thiếu quỹ đất lâm nghiệp, mà ở khả năng cụ thể hóa quy hoạch thành vùng nguyên liệu, kết nối sử dụng đất với sản xuất lâm nghiệp và chuẩn hóa thông tin về ranh giới, chủ sử dụng và hiện trạng lô rừng. Chất lượng dữ liệu này ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức vùng nguyên liệu, quản lý chứng chỉ và truy xuất nguồn gốc.
Liên kết sản xuất đã hình thành nhưng mức độ phổ biến chưa được lượng hóa đầy đủ. Năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận bốn công ty lâm nghiệp thực hiện liên doanh, liên kết trồng rừng với người dân và bao tiêu sản phẩm(19); một số doanh nghiệp chế biến lớn cũng đã tổ chức chuỗi từ vùng nguyên liệu đến chế biến và xuất khẩu. Đây là bằng chứng cho thấy mô hình liên kết có khả năng triển khai trong thực tiễn. Tuy nhiên, hiện chưa có số liệu công khai về tỷ lệ diện tích rừng trồng, số hộ hoặc sản lượng gỗ được tổ chức thông qua hợp đồng dài hạn; do đó chưa đủ cơ sở để xác định mức độ bao phủ của mô hình liên kết trên toàn tỉnh. Như vậy, ràng buộc đáng chú ý trong nhóm này không phải là quy mô đất lâm nghiệp, mà là khả năng chuyển nguồn lực đất đai thành các vùng nguyên liệu được quản lý bằng dữ liệu thống nhất và kết nối ổn định với doanh nghiệp chế biến. Đây là điều kiện nền tảng cho đầu tư dài hạn, chứng chỉ rừng và truy xuất nguồn gốc.
Điểm nghẽn về hạ tầng và logistics lâm nghiệp
Logistics có vai trò đặc biệt đối với lâm nghiệp do gỗ nguyên liệu có khối lượng lớn, chi phí khai thác và vận chuyển phát sinh từ lô rừng đến điểm tập kết và cơ sở chế biến. Hiệu quả của chuỗi vì vậy phụ thuộc vào khả năng tiếp cận lô rừng, chất lượng đường vận xuất - vận chuyển, cự ly tới nhà máy và tổ chức mạng lưới thu mua. Tại Tuyên Quang đã xuất hiện bằng chứng về áp lực chi phí này. Trường hợp một doanh nghiệp sản xuất ván ép tại Cụm công nghiệp Nam Quang cho thấy khoảng cách vận chuyển và chi phí logistics lớn làm tăng chi phí sản xuất, qua đó tạo áp lực nâng cao chất lượng sản phẩm để duy trì sức cạnh tranh(11). Tuy nhiên, đây mới là bằng chứng trường hợp; hiện chưa có dữ liệu toàn tỉnh về mật độ đường lâm nghiệp, cự ly vận chuyển bình quân, chi phí vận xuất - vận chuyển trên một mét khối gỗ hoặc tỷ lệ vùng nguyên liệu có thể tiếp cận bằng phương tiện cơ giới.
Hạ tầng kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến cần được xem như một cấu phần của chuỗi giá trị. Chi phí vận chuyển cao làm giảm phần giá trị còn lại tại khâu sản xuất rừng, thu hẹp phạm vi thu mua kinh tế và có thể làm giảm lợi ích của việc kéo dài chu kỳ. Vì vậy, đầu tư đường lâm nghiệp và tổ chức mạng lưới logistics cần gắn với quy mô vùng nguyên liệu, vị trí cơ sở chế biến và hiệu quả kinh tế của toàn chuỗi. Hiện chưa có bộ dữ liệu đồng nhất về cự ly vận chuyển bình quân và chi phí logistics trên một đơn vị gỗ của toàn tỉnh, nên mức độ của điểm nghẽn này vẫn cần được lượng hóa thêm.
Điểm nghẽn về vốn và phân bổ rủi ro
Đặc điểm cơ bản của sản xuất rừng là sự tách biệt lớn về thời gian giữa chi phí đầu tư và thu nhập. Phần lớn chi phí trồng, chăm sóc và bảo vệ phát sinh ở giai đoạn đầu, trong khi nguồn thu chính chỉ được hình thành khi khai thác. Việc chuyển từ gỗ nguyên liệu chu kỳ ngắn sang gỗ lớn kéo dài thời gian thu hồi vốn và làm tăng yêu cầu về thanh khoản của chủ rừng. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy hộ trồng keo có xu hướng ưu tiên chu kỳ ngắn khi cần thu hồi vốn nhanh, trong khi sản xuất gỗ lớn đòi hỏi khả năng chờ đợi lâu hơn, tiếp cận tài chính và quản trị rủi ro tốt hơn(20). Đồng thời, hiệu quả kinh tế của chuỗi còn phụ thuộc vào mức độ phối hợp giữa chủ rừng và tác nhân chế biến - thị trường(21).
Chính sách công đã nhận diện nhu cầu vốn dài hạn của sản xuất lâm nghiệp. Nghị định số 58/2024/NĐ-CP quy định cơ chế hỗ trợ tín dụng cho đầu tư trồng rừng gỗ lớn(22). Tuy nhiên, hiện chưa có bộ số liệu của tỉnh mới về số chủ rừng được vay, dư nợ lâm nghiệp, tỷ lệ nhu cầu vốn được đáp ứng hoặc mức độ hạn chế tín dụng. Vì vậy, chưa thể định lượng quy mô của ràng buộc tài chính tại địa phương.
Rủi ro làm cho vấn đề vốn trở nên phức tạp hơn. Trong chu kỳ kéo dài nhiều năm, rừng chịu tác động của thiên tai, cháy, sâu bệnh và biến động giá. Khi chủ rừng phải tự chịu phần lớn tổn thất tiềm tàng trong một chu kỳ dài, quyết định khai thác sớm có thể là lựa chọn nhằm hạn chế rủi ro và bảo đảm dòng tiền. Do đó, điểm nghẽn tài chính cần được hiểu rộng hơn “thiếu vốn”: Vấn đề nằm ở sự không tương thích giữa chu kỳ sinh học dài của rừng với khả năng thanh khoản và sức chịu rủi ro của chủ rừng. Để đánh giá chính xác mức độ của điểm nghẽn này tại Tuyên Quang, cần bổ sung dữ liệu về tín dụng, cấu trúc vốn, lý do lựa chọn tuổi khai thác và thiệt hại rủi ro ở cấp hộ hoặc chủ rừng.
Điểm nghẽn về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số
Tuyên Quang đã bước đầu ứng dụng các công nghệ về giống, GIS, viễn thám và truy xuất nguồn gốc trong quản lý và sản xuất lâm nghiệp. Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay không nằm ở sự thiếu vắng hoàn toàn công nghệ, mà ở mức độ phổ cập, khả năng tích hợp và tính liên thông của dữ liệu trên toàn chuỗi. Việc mở rộng truy xuất từ các mô hình thí điểm sang vùng nguyên liệu quy mô lớn vẫn đòi hỏi chuẩn hóa dữ liệu về đất đai, chủ rừng, lô rừng và sản phẩm.
Có thể phân biệt ba nhóm công nghệ cần được tích hợp: Công nghệ sản xuất, gồm giống chất lượng cao và kỹ thuật lâm sinh; công nghệ quản lý, gồm GIS, viễn thám và cơ sở dữ liệu; công nghệ thị trường, gồm mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc. Vấn đề trọng tâm là mức độ phổ cập, tính tương thích giữa các hệ thống và khả năng tiếp cận của hộ trồng rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp quy mô nhỏ. Vì vậy, điểm nghẽn khoa học - công nghệ phù hợp hơn khi được xác định là khoảng cách giữa công nghệ đã hiện diện và mức độ ứng dụng đồng bộ trên toàn chuỗi, thay vì “thiếu công nghệ”.
Cơ chế tác động của các điểm nghẽn
Các bằng chứng hiện có chưa cho phép ước lượng tác động nhân quả riêng biệt của từng điểm nghẽn đối với giá trị kinh tế rừng Tuyên Quang. Vì vậy, phần này được sử dụng như một khung diễn giải về các kênh truyền dẫn có khả năng xảy ra, dựa trên dữ liệu địa phương và kết quả nghiên cứu có liên quan.
Kênh thứ nhất xuất phát từ quản trị không gian và thông tin. Khi dữ liệu đất đai, chủ rừng và lô rừng chưa được kết nối đầy đủ, chi phí xác minh quyền sử dụng, tổ chức vùng nguyên liệu, chứng nhận và truy xuất có thể tăng. Những chi phí này ảnh hưởng đến khả năng hình thành quan hệ hợp đồng dài hạn giữa chủ rừng và doanh nghiệp.
Kênh thứ hai liên quan đến chi phí vật chất của chuỗi cung ứng. Điều kiện đường lâm nghiệp và khoảng cách vận chuyển ảnh hưởng đến chi phí đưa nguyên liệu từ rừng đến cơ sở chế biến. Chi phí cao có thể được phản ánh vào giá mua gỗ tại rừng, từ đó tác động đến lợi ích của người sản xuất và phạm vi kinh tế của vùng nguyên liệu.
Kênh thứ ba là thanh khoản và rủi ro theo thời gian. Chu kỳ dài làm tăng thời gian thu hồi vốn và thời gian tài sản rừng tiếp xúc với thiên tai, sâu bệnh và biến động giá. Nếu khả năng vay vốn và chia sẻ rủi ro hạn chế, chủ rừng có động cơ ưu tiên thu hồi vốn sớm. Bằng chứng nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với quyết định duy trì chu kỳ ngắn và sản xuất gỗ nhỏ(23).
Kênh thứ tư là năng suất, thông tin và tiếp cận thị trường. Giống, kỹ thuật lâm sinh và công nghệ quản lý ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nguyên liệu; trong khi dữ liệu và truy xuất nguồn gốc quyết định khả năng chứng minh tính hợp pháp, bền vững của sản phẩm. Vì vậy, công nghệ không phải một điểm nghẽn độc lập mà tác động xuyên suốt các khâu từ sản xuất đến thương mại.
Các kênh này có thể tương tác và khuếch đại lẫn nhau. Chẳng hạn, tín dụng dài hạn khó tạo động lực kéo dài chu kỳ nếu đầu ra chưa ổn định; đầu tư đường lâm nghiệp ít hiệu quả nếu vùng nguyên liệu chưa được tổ chức; chứng chỉ và truy xuất chỉ phát huy giá trị khi doanh nghiệp có năng lực chế biến và tiếp cận thị trường. Ngược lại, liên kết chuỗi tốt có thể đồng thời cải thiện đầu ra, hỗ trợ kỹ thuật, giảm bất cân xứng thông tin và tạo điều kiện cho chủ rừng tiếp cận các phương án sản xuất dài hạn hơn. Do đó, kết quả quan trọng của phân tích điểm nghẽn không phải là xác định một yếu tố đơn lẻ có vai trò chi phối, mà là nhận diện tính bổ trợ giữa thể chế đất đai, liên kết chuỗi, hạ tầng, tài chính và công nghệ. Đây là cơ sở để các giải pháp ở phần sau được thiết kế theo nhóm chính sách phối hợp, thay vì xử lý từng hạn chế một cách tách rời.

Biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng mới, bền vững
Các điểm nghẽn của kinh tế rừng Tuyên Quang có quan hệ chặt chẽ với nhau; vì vậy, giải pháp không thể được triển khai như những chương trình độc lập. Đất đai và dữ liệu quyết định khả năng tổ chức vùng nguyên liệu; hạ tầng và tài chính quyết định khả năng đầu tư dài hạn; chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng đến chế biến; còn thị trường quyết định phần giá trị cuối cùng mà chủ rừng và doanh nghiệp có thể thu được. Do đó, giai đoạn 2026 - 2030, cần ưu tiên các giải pháp có khả năng đồng thời giảm chi phí giao dịch, nâng chất lượng nguyên liệu và tăng giá trị trên một đơn vị tài nguyên.
Hoàn thiện thể chế đất đai và tổ chức lại chuỗi giá trị
Trước hết, cần hoàn thiện thông tin pháp lý và dữ liệu đối với rừng và đất lâm nghiệp. Giai đoạn 2026 - 2027 nên ưu tiên rà soát ranh giới, chủ quản lý, hiện trạng sử dụng, các trường hợp chồng lấn và mức độ đầy đủ của hồ sơ đất đai; đồng thời kết nối dữ liệu địa chính với dữ liệu hiện trạng rừng. Mục tiêu là hình thành một cơ sở dữ liệu đủ tin cậy để phục vụ giao đất - giao rừng, chứng chỉ, tín dụng, truy xuất nguồn gốc và liên kết sản xuất.
Tổ chức vùng nguyên liệu cần dựa trên không gian kinh tế của chuỗi cung ứng thay vì chỉ dựa vào địa giới hành chính. Các vùng nên được phân định theo nhóm loài, điều kiện lập địa, tuổi rừng, khả năng tiếp cận và khoảng cách tới cơ sở chế biến. Đối với các hộ có diện tích nhỏ, ưu tiên tích tụ về tổ chức sản xuất thông qua nhóm hộ, tổ hợp tác và hợp tác xã hơn là tập trung quyền sử dụng đất. Các hộ vẫn duy trì quyền sử dụng đất nhưng cùng áp dụng quy trình kỹ thuật, chứng chỉ, lịch khai thác và kế hoạch tiêu thụ thống nhất.
Liên kết giữa chủ rừng và doanh nghiệp cần được chuyển từ mua bán ngắn hạn sang hợp đồng ổn định hơn. Hợp đồng nên quy định rõ tiêu chuẩn nguyên liệu, phân hạng gỗ, nguyên tắc hình thành giá, phần thưởng đối với gỗ lớn hoặc có chứng chỉ, hỗ trợ kỹ thuật - đầu vào và cơ chế xử lý rủi ro(24). Bằng chứng nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy khả năng kéo dài chu kỳ và nâng giá trị sản phẩm phụ thuộc đáng kể vào tổ chức chuỗi, đầu ra và năng lực phối hợp giữa các tác nhân(25). Đồng thời, cần mở rộng chứng chỉ nhóm đối với hộ trồng rừng nhỏ để giảm chi phí chứng nhận và kiểm soát nội bộ. Hợp tác xã hoặc tổ chức đại diện có thể làm đầu mối quản lý hồ sơ, kỹ thuật và kết nối doanh nghiệp.
Nâng cao năng suất và chất lượng rừng
Mục tiêu của nâng cao năng suất không chỉ là tăng sản lượng gỗ/ha mà là tăng tỷ lệ gỗ đạt quy cách cho chế biến có giá trị cao hơn.
Trước hết, cần phân vùng rừng sản xuất theo điều kiện lập địa, rủi ro thiên tai, khả năng tiếp cận và nhu cầu thị trường để xác định nơi phù hợp với rừng gỗ lớn, nơi phù hợp với chu kỳ ngắn và nơi nên áp dụng mô hình hỗn giao. Mục tiêu khoảng 40% diện tích trồng mới theo hướng gỗ lớn đến năm 2030(26) cần được thực hiện có chọn lọc, không áp dụng đồng nhất cho mọi khu vực.
Ở các vùng phù hợp, cần chuẩn hóa quy trình quản lý rừng gỗ lớn từ lựa chọn giống, mật độ, tỉa thưa, tỉa cành đến phòng trừ sâu bệnh và xác định tuổi khai thác. Hiệu quả phải được đánh giá bằng năng suất, đường kính, tỷ lệ gỗ đạt quy cách xẻ, giá trị cuối chu kỳ và tỷ suất sinh lợi thay vì chỉ bằng diện tích đã trồng.
Hệ thống giống cần được quản lý từ nguồn vật liệu đến vườn ươm và lô trồng. Tăng tỷ lệ sử dụng giống có nguồn gốc rõ ràng, giống tiến bộ kỹ thuật và vật liệu phù hợp với từng vùng sinh thái; đồng thời duy trì mức đa dạng di truyền hợp lý để hạn chế rủi ro do sâu bệnh và biến động khí hậu. Đối với chứng chỉ rừng, trọng tâm cần chuyển từ số diện tích “được cấp” sang chất lượng quản lý sau chứng nhận và khả năng tạo giá trị thị trường. Các vùng chứng chỉ mới nên ưu tiên nơi có doanh nghiệp thu mua, chế biến và khả năng trả giá khác biệt cho nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn.
Phát triển hạ tầng, tài chính và cơ chế chia sẻ rủi ro
Ba yếu tố này cần được xử lý đồng thời vì đều ảnh hưởng đến khả năng duy trì chu kỳ rừng dài.
Về hạ tầng, đầu tư đường lâm nghiệp cần được xếp hạng theo hiệu quả kinh tế - sinh thái. Ưu tiên các tuyến phục vụ vùng nguyên liệu lớn, giảm đáng kể cự ly vận chuyển, kết nối trực tiếp với cơ sở chế biến và đồng thời hỗ trợ phòng cháy, chữa cháy. Tại khu vực rừng tự nhiên hoặc nhạy cảm sinh thái, việc mở đường phải được kiểm soát chặt để tránh phân mảnh sinh cảnh.
Về tài chính, cần đưa đầy đủ các cơ chế hỗ trợ tín dụng trồng rừng gỗ lớn theo Nghị định số 58/2024/NĐ-CP(27) vào thực tế. Chủ rừng cần được hỗ trợ hoàn thiện phương án sản xuất, hồ sơ đất đai và thủ tục vay vốn; đồng thời tăng khả năng liên kết giữa ngân hàng, hợp tác xã và doanh nghiệp thu mua. Doanh nghiệp có thể ứng trước một phần đầu vào hoặc chi phí chăm sóc trên cơ sở hợp đồng, nhưng giá mua cần có cơ chế điều chỉnh theo thị trường và chất lượng sản phẩm.
Về rủi ro, các vùng nguyên liệu nên bố trí cơ cấu nhiều cấp tuổi để phân tán thời điểm khai thác và giảm thiệt hại tập trung khi xảy ra thiên tai. Hợp đồng liên kết cần có điều khoản về gỗ thiệt hại, khai thác cứu hộ và phân bổ tổn thất. Đồng thời, cần nghiên cứu các cơ chế bảo hiểm hoặc quỹ chia sẻ rủi ro phù hợp với đặc thù sản xuất lâm nghiệp.
Phát triển kinh tế rừng đa giá trị
Phát triển đa giá trị cần tuân theo một nguyên tắc: Nguồn thu bổ sung không được làm suy giảm chức năng sinh thái của rừng.
Đối với kinh tế dưới tán, cần phân vùng theo loại rừng và điều kiện sinh thái, sau đó lựa chọn một số sản phẩm có lợi thế rõ thay vì mở rộng đồng loạt. Dược liệu và lâm sản ngoài gỗ chỉ nên phát triển thành vùng hàng hóa khi đồng thời đáp ứng bốn điều kiện: Phù hợp sinh thái; chủ động nguồn giống; có khả năng sơ chế - chế biến và có thị trường hoặc doanh nghiệp tiêu thụ. Với các chuỗi dược liệu, từng bước áp dụng tiêu chuẩn chất lượng phù hợp và gắn vùng nguyên liệu với chế biến.
Đối với chi trả dịch vụ môi trường rừng, trọng tâm cần chuyển từ quản lý dòng tiền sang đánh giá hiệu quả của khoản chi đối với chất lượng bảo vệ rừng và thu nhập của chủ rừng. Dữ liệu chi trả nên được liên kết với lô rừng và kết quả giám sát tài nguyên để có thể đánh giá hiệu quả theo không gian.
Du lịch sinh thái cần được tập trung tại những khu vực có lợi thế cảnh quan và khả năng kiểm soát tác động. Mỗi sản phẩm cần có giới hạn sức tải, phương án quản lý chất thải và cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng; lượng khách không nên là chỉ tiêu duy nhất đánh giá hiệu quả.
Đối với carbon rừng, trước năm 2030 cần tập trung vào ba điều kiện nền tảng: Xây dựng đường cơ sở và hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định; xác định quyền đối với carbon và thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích. Chỉ khi các điều kiện này đủ rõ mới nên mở rộng giao dịch thương mại.
Phát triển công nghiệp chế biến sâu và thị trường
Muốn đạt mục tiêu trên 70% nguyên liệu được đưa vào chế biến sâu(28), trước hết cần thống nhất cách phân loại sản phẩm và xây dựng đường cơ sở về cơ cấu sử dụng gỗ. Tỉnh cần theo dõi dòng nguyên liệu từ gỗ tròn đến dăm, gỗ xẻ, ván, sản phẩm bán thành phẩm và sản phẩm hoàn chỉnh để xác định mức độ giá trị được tạo ra trong từng khâu. Nguyên liệu cần được phân hạng theo đường kính, chiều dài, chất lượng và chứng chỉ ngay từ khâu khai thác hoặc tập kết. Cơ chế giá phải phản ánh khác biệt về phẩm cấp; nếu gỗ lớn và gỗ chất lượng cao không nhận được mức giá tương xứng, động lực kéo dài chu kỳ sẽ suy giảm.
Chính sách thu hút đầu tư cần ưu tiên các dự án làm tăng giá trị trên một đơn vị gỗ, như sấy, ghép thanh, cấu kiện, ván kỹ thuật, đồ nội - ngoại thất và các sản phẩm có hàm lượng thiết kế cao. Việc lựa chọn dự án không chỉ dựa vào quy mô vốn mà cần xét tỷ lệ nguyên liệu hợp pháp, hiệu suất sử dụng gỗ, giá trị gia tăng, tiêu hao năng lượng, xử lý phụ phẩm và khả năng tạo việc làm có kỹ năng. Phụ phẩm chế biến cần được đưa vào chuỗi sử dụng tuần hoàn phù hợp để nâng hiệu suất nguyên liệu. Đồng thời, tránh phát triển công suất sản phẩm giá trị thấp ở mức làm gia tăng cạnh tranh nguyên liệu với các ngành chế biến sâu.
Về thị trường, trọng tâm cần chuyển từ xúc tiến thương mại đơn lẻ sang năng lực tuân thủ. Chứng chỉ, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu địa lý vùng nguyên liệu và hồ sơ hợp pháp của gỗ phải trở thành một phần của hệ thống sản xuất thường xuyên. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ nên tập trung vào tiêu chuẩn sản phẩm, thiết kế, phát triển mẫu, marketing B2B và kết nối trực tiếp với người mua.
Chuyển đổi số và hệ thống dữ liệu kinh tế rừng
Chuyển đổi số cần bắt đầu từ một yêu cầu đơn giản: Xác định được mỗi lô rừng ở đâu, do ai quản lý và nguyên liệu từ đó đi vào chuỗi nào.
Nền tảng của hệ thống là một mã định danh thống nhất cho lô rừng, liên kết thông tin về ranh giới, chủ thể quản lý, trạng thái rừng, loài cây, năm trồng, chứng chỉ, mã vùng trồng và lịch sử khai thác. Khi nguyên liệu rời khỏi lô rừng, mã này tiếp tục liên kết với hồ sơ vận chuyển và cơ sở chế biến. Giai đoạn 2026 - 2027 cần ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu đất đai - lâm nghiệp, mã hóa lô rừng và kết nối với chứng chỉ, mã số vùng trồng. Giai đoạn 2028 - 2030 mở rộng sang truy xuất chuỗi cung ứng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và dữ liệu carbon.
GIS, viễn thám và UAV nên được sử dụng theo phương pháp quản lý rủi ro: Công nghệ viễn thám phát hiện khu vực có biến động bất thường, còn kiểm tra hiện trường tập trung vào các điểm có xác suất rủi ro cao. Cách tiếp cận này giúp giảm chi phí giám sát trên địa bàn rộng. Quan trọng hơn số lượng phần mềm là khả năng liên thông và cập nhật dữ liệu. Cần xác định rõ cơ quan cập nhật, tần suất cập nhật, tiêu chuẩn dữ liệu, quyền truy cập và trách nhiệm kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở đó, tỉnh nên xây dựng bảng chỉ số kinh tế rừng theo dõi thường xuyên diện tích, năng suất, gỗ lớn, chứng chỉ, sản lượng, giá gỗ, chế biến sâu, xuất khẩu, dịch vụ môi trường rừng, kinh tế dưới tán và thu nhập của người làm nghề rừng. Đây là nền tảng để chuyển quản lý từ theo dõi hoạt động sang theo dõi kết quả.
Nâng cao năng lực quản trị
Năng lực quản trị quyết định mức độ phối hợp giữa các nhóm giải pháp trên. Thay vì mở rộng thêm đầu mối tổ chức, cần ưu tiên cơ chế điều phối phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý đất đai - lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, khoa học - công nghệ, tài chính, hạ tầng và chính quyền địa phương. Quản trị cần chuyển từ đánh giá đầu vào sang đánh giá kết quả. Số lớp tập huấn, cây giống được cấp hoặc kilômét đường được xây dựng vẫn cần theo dõi, nhưng phải gắn với các chỉ tiêu cuối cùng như năng suất, giá trị/ha, tỷ lệ gỗ lớn, tỷ lệ chế biến sâu, thu nhập hộ, chi phí logistics và chất lượng rừng.
Đào tạo cũng cần phân theo nhóm tác nhân. Chủ rừng cần kỹ năng lâm sinh, tính toán hiệu quả, hợp đồng và chứng chỉ; hợp tác xã cần năng lực quản trị nhóm hộ và truy xuất; doanh nghiệp cần công nghệ, thị trường và tuân thủ; cán bộ quản lý cần năng lực GIS, phân tích dữ liệu và giám sát dựa trên rủi ro. Các mô hình mới nên áp dụng nguyên tắc thí điểm - đánh giá - nhân rộng. Mỗi mô hình cần có số liệu trước và sau can thiệp về chi phí, doanh thu, thu nhập và tác động sinh thái. Chỉ những mô hình chứng minh được hiệu quả và khả năng nhân rộng mới nên tiếp tục nhận nguồn lực công.
Như vậy, lợi thế lớn của Tuyên Quang đồng thời đặt ra một thách thức rõ ràng: Quy mô tài nguyên rừng lớn của Tuyên Quang chưa đồng nghĩa với giá trị kinh tế tương xứng. Tỉnh có lợi thế rõ về diện tích và độ che phủ rừng, vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến và dịch vụ môi trường rừng; tuy nhiên, khả năng chuyển hóa các nguồn lực này thành giá trị gia tăng còn phụ thuộc vào chất lượng rừng, tổ chức vùng nguyên liệu, mức độ chế biến và khả năng khai thác các giá trị ngoài gỗ. Phân tích cho thấy các ràng buộc tập trung ở bốn nhóm chính: Quản lý đất đai và liên kết sản xuất; hạ tầng và logistics; vốn và rủi ro của chu kỳ lâm nghiệp; công nghệ và dữ liệu. Các yếu tố này có quan hệ bổ trợ, khiến hạn chế ở một khâu có thể làm giảm hiệu quả của các khâu còn lại. Vì vậy, điểm nghẽn của kinh tế rừng không nằm ở một yếu tố đơn lẻ, mà ở khả năng tổ chức toàn bộ chuỗi tạo giá trị.
Đến năm 2030, trọng tâm phát triển cần chuyển từ mở rộng sản lượng sang nâng giá trị trên một đơn vị tài nguyên. Điều này đòi hỏi nâng chất lượng rừng trồng, bảo vệ rừng tự nhiên, phát triển gỗ lớn ở những khu vực phù hợp, tăng tỷ lệ chế biến sâu và mở rộng nguồn thu từ kinh tế dưới tán, dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái và các giá trị carbon khi đủ điều kiện. Các chính sách về đất đai, hạ tầng, tín dụng, công nghệ và thị trường vì vậy cần được thiết kế như những cấu phần bổ trợ của cùng một chuỗi giá trị, thay vì triển khai riêng lẻ. Hoàn thiện hệ thống dữ liệu kinh tế rừng là điều kiện quan trọng để lượng hóa hiệu quả chính sách trong giai đoạn tiếp theo. Do đó, thước đo thành công của kinh tế rừng Tuyên Quang không phải là khai thác nhiều gỗ hơn, mà là tạo ra nhiều giá trị hơn từ rừng trong khi vốn rừng được duy trì và cải thiện./.
TS Nguyễn Mạnh Dũng
Trường Đại học Thủ Dầu Một
---------------------
(1) Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14, ngày 15-11-2017
(2) Quyết định số 523/QĐ-TTg, ngày 1-4-2021, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
(3), (17) Quyết định số 208/QĐ-TTg, ngày 29-2-2024, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
(4) Xem: Meyfroidt, P., & Lambin, E. F. (2008), “Forest transition in Vietnam and its environmental impacts” (Tạm dịch: Sự chuyển đổi rừng tại Việt Nam và các tác động môi trường của nó), Global Change Biology, 14(6), 1319-1336. https://doi.org/10.1111/j.1365-2486.2008.01575.x
(5), (13), (15), (21), (24) Xem: Tham, L. T., Darr, D., & Pretzsch, J. (2021), “Analysis of Acacia hybrid timber value chains: A case study of woodchip and furniture production in central Vietnam” (Tạm dịch: Phân tích các chuỗi giá trị gỗ keo lai: Nghiên cứu điển hình về sản xuất dăm gỗ và đồ nội thất tại miền Trung Việt Nam), Forest Policy and Economics, 125, 102401. https://doi.org/10.1016/j.forpol.2021.102401
(6), (12), (20), (23), (25) Xem: Po, M., Pannell, D. J., Walker, I., Tapsuwan, S., Dempster, F., Mendham, D. S., Beadle, C., Dong, T. L., Tran, A. H., Thi, H. L., & Ha, D. T. H. (2023), “Supporting smallholder acacia farmers in Viet Nam to transition to sawlog production: Opportunities and challenges” (Tạm dịch: Hỗ trợ các hộ trồng keo quy mô nhỏ tại Việt Nam chuyển đổi sang mô hình sản xuất gỗ xẻ: Cơ hội và thách thức), Trees, Forests and People, 12, 100384. https://doi.org/10.1016/j.tfp.2023.100384
(7), (18) Xem: “Đảm bảo chi trả dịch vụ môi trường rừng đúng, đủ, kịp thời”, Trang thông tin điện tử tổng hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang, https://sonnmt.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/dam-bao-chi-tra-dich-vu-moi-truong-rung-dung-du-kip-thoi?type=NEWS&id=165083, ngày 11-12-2025
(8) Quốc hội (2025), Nghị quyết số 202/2025/QH15, ngày 12-6-2025, về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh
(9), (10) Quyết định số 375/QĐ-UBND, ngày 25-2-2026, về công bố hiện trạng rừng tỉnh Tuyên Quang năm 2025
(11) Xem: “Hướng tới Trung tâm chế biến lâm sản”, Trang thông tin điện tử tổng hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang, https://sonnmt.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/huong-toi-trung-tam-che-bien-lam-san?type=NEWS&id=202912, ngày 15-1-2026
(14), (19) Xem: “Sức bật ngành lâm nghiệp”, Trang thông tin điện tử tổng hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang, https://sonnmt.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/suc-bat-nganh-lam-nghiep?type=NEWS&id=155072, ngày 12-9-2025
(16) Xem: “Đánh thức tiềm năng dưới tán rừng”, Báo Tuyên Quang online, https://baotuyenquang.com.vn/kinh-te/202606/danh-thuc-tiem-nang-duoi-tan-rung-9974355/, ngày 25-6-2026
(22), (27) Nghị định số 58/2024/NĐ-CP, ngày 24-5-2024, của Chính phủ, về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp
(26), (28) Nghị quyết số 90-NQ/TU, ngày 12-5-2026, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang, về phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2026 - 2030.