Trong số các chính sách mới đáng chú ý, có quy định về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo; nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp; bổ sung cơ chế ưu đãi, hỗ trợ công nghiệp chế tạo phục vụ ngành điện lực; đồng thời điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công và mức chuẩn trợ giúp xã hội.

Điều kiện mới đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Nghị định số 342/2026/NĐ-CP ngày 3/9/2026 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Theo Nghị định, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền xuất khẩu được xuất khẩu ra nước ngoài và khu vực hải quan riêng các loại hàng hóa mua tại Việt Nam; hàng hóa do tổ chức kinh tế đặt gia công tại Việt Nam; hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam.

14-1790828968.jpg
Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền xuất khẩu được xuất khẩu ra nước ngoài và khu vực hải quan riêng các loại hàng hóa mua tại Việt Nam

Để thực hiện quyền xuất khẩu, hàng hóa phải đáp ứng các điều kiện theo quy định. Cụ thể, hàng hóa xuất khẩu không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, danh mục hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu hoặc danh mục hàng hóa không được quyền xuất khẩu theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đối với hàng hóa thuộc danh mục xuất khẩu theo giấy phép hoặc theo điều kiện, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy phép hoặc đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Tương tự, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền nhập khẩu được nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài và khu vực hải quan riêng vào Việt Nam khi hàng hóa không thuộc danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc danh mục hàng hóa không được quyền nhập khẩu theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trường hợp hàng hóa thuộc danh mục nhập khẩu theo giấy phép hoặc theo điều kiện, tổ chức kinh tế phải có giấy phép hoặc đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

Nghị định số 342/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 18/10/2026.

Hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp có thể lên tới 95%
Một chính sách đáng chú ý khác là Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.

Theo quy định mới, mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp được điều chỉnh theo hướng tăng đối với nhiều nhóm đối tượng.

15-1790828968.jpg
Mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp được điều chỉnh theo hướng tăng đối với nhiều nhóm đối tượng.

Cụ thể, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp, thay cho mức tối đa 90% trước đây.

Đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, mức hỗ trợ tối đa được nâng lên 50% phí bảo hiểm, thay cho mức 20%.

Đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, mức hỗ trợ tối đa là 30% phí bảo hiểm nông nghiệp, tăng 10 điểm phần trăm so với quy định hiện hành. Đối tượng được hỗ trợ gồm doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp; tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Nghị định số 346/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/10/2026.

Điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo áp dụng từ ngày 1/10
Từ ngày 1/10/2026, Nghị định số 365/2026/NĐ-CP ngày 23/9/2026 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu gạo chính thức có hiệu lực.

Theo quy định mới, thương nhân được thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật được kinh doanh xuất khẩu gạo khi có ít nhất một kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát gạo đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Kho chứa và cơ sở xay xát có thể thuộc quyền sở hữu của thương nhân hoặc do thương nhân thuê của tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp thuê, thương nhân phải có hợp đồng thuê bằng văn bản theo quy định của pháp luật và bảo đảm thời hạn phù hợp với thời hạn của Giấy chứng nhận.

Đáng chú ý, thương nhân đã được cấp Giấy chứng nhận không được cho thương nhân khác thuê các kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và cơ sở xay xát gạo đã được Bộ Công Thương ghi nhận trong Giấy chứng nhận để làm căn cứ đề nghị cấp Giấy chứng nhận.

Bộ Công Thương thực hiện cấp Giấy chứng nhận cho thương nhân dưới dạng bản giấy và bản điện tử khi áp dụng đối với các thương nhân đáp ứng điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định.

Công nghiệp chế tạo phục vụ ngành điện lực được bổ sung cơ chế hỗ trợ
Nghị định số 344/2026/NĐ-CP ngày 4/9/2026 của Chính phủ quy định về ứng dụng khoa học, công nghệ và phát triển công nghiệp chế tạo trong lĩnh vực điện lực cũng bắt đầu có hiệu lực từ 20/10/2026.

Nghị định quy định một loạt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với công nghiệp chế tạo phục vụ ngành điện lực, trong đó có chính sách ưu đãi chung đối với doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện trong lĩnh vực điện lực.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định cơ chế sử dụng hạng mục, thiết bị và dịch vụ tư vấn quan trọng trong lĩnh vực điện lực; cơ chế đặt hàng và ưu đãi đối với sản phẩm thiết bị điện; cơ chế cung ứng các hạng mục, thiết bị và dịch vụ được sản xuất trong nước.

Các chính sách hỗ trợ còn bao gồm hỗ trợ thử nghiệm, đánh giá và chứng nhận sản phẩm; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực điện lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

16-1790828968.jpg
Mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng được nâng lên 3.012.000 đồng

Tăng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công
Từ ngày 1/10/2026, Nghị định số 321/2026/NĐ-CP ngày 15/8/2026 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng chính thức có hiệu lực.

Theo đó, mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng được nâng lên 3.012.000 đồng, thay cho mức 2.789.000 đồng theo Nghị định số 77/2024/NĐ-CP.

Mức chuẩn mới là căn cứ để tính mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng theo quy định.

Mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng lên 540.000 đồng/tháng
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội có hiệu lực từ ngày 5/10/2026.

Theo Điều 4 Nghị định, mức chuẩn trợ giúp xã hội được nâng lên 540.000 đồng/tháng, thay cho mức 360.000 đồng/tháng theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

Mức chuẩn này được sử dụng làm căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội; mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác, cùng các mức trợ giúp xã hội khác theo quy định.

Đáng chú ý, từ ngày 5/10/2026, người thuộc diện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội cũng được điều chỉnh mức hưởng từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng, theo quy định sửa đổi tại Nghị định số 335/2026/NĐ-CP.