6-1793693998.jpg
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tham quan gian trưng bày của các doanh nghiệp logistics, tại Diễn đàn Logistics Vùng lần VII 2026 với chủ đề: “Kiến tạo không gian phát triển mới cho logistics vùng đồng bằng sông Hồng”_Ảnh: TTXVN

Vị thế, vai trò và yêu cầu liên kết phát triển vùng đồng bằng sông Hồng

Đồng bằng sông Hồng là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc của dân tộc. Về quy mô và cấu trúc, trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, vùng đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được phân thành 2 tiểu vùng: Tiểu vùng Bắc đồng bằng sông Hồng bao gồm 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên; tiểu vùng Nam đồng bằng sông Hồng gồm 4 tỉnh: Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

Ngày 5-10-2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 306/NQ-CP về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, định hướng xây dựng vùng đồng bằng sông Hồng là động lực phát triển hàng đầu, có vai trò định hướng, dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới của đất nước. Theo đó, vùng đồng bằng sông Hồng sau sắp xếp đơn vị hành chính gồm 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Quảng Ninh(1). Cấu trúc không gian phát triển mới tạo điều kiện phát huy rõ hơn lợi thế và chức năng của từng địa phương: Hà Nội tập trung vào dịch vụ cao cấp, tài chính, nghiên cứu và phát triển; Hải Phòng là cửa ngõ ra biển và trung tâm công nghiệp, logistics; Quảng Ninh là đầu mối giao thương quốc tế qua biên giới và du lịch. Đồng thời, các tỉnh quy mô lớn như Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình tạo thêm các vành đai công nghiệp và đô thị, góp phần giảm tải cho Thủ đô và tăng cường tính bổ trợ trong không gian phát triển vùng.

Cơ cấu đơn vị hành chính cấp tỉnh Vùng đồng bằng sông Hồng hiện hành năm 2026

7-1793694038.jpg
Nguồn: Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam; Nghị quyết số 202/2025/QH15; Nghị quyết số 306/NQ-CP ngày 5-10-2025 (phân vùng đồng bằng sông Hồng gồm 6 tỉnh, thành phố)

Với diện tích tự nhiên ước tính 23.938 km² (chiếm 6,42% diện tích cả nước) và dân số gần 25 triệu người, đây là vùng có mật độ dân số cao nhất, tập trung nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ sở hạ tầng đồng bộ nhất Việt Nam. Vùng đồng bằng sông Hồng tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những cực tăng trưởng lớn của Việt Nam. Năm 2025, GRDP toàn vùng tăng 9,74%, cao hơn mức tăng GDP 8,02% của cả nước và đóng góp 36,41% vào mức tăng trưởng kinh tế cả nước, cao nhất trong các vùng kinh tế - xã hội (trong đó, Hà Nội đóng góp cao nhất toàn vùng 12,94%, Hải Phòng là 8,58%, Bắc Ninh là 5,32%, Quảng Ninh là 3,86%, Ninh Bình là 3,28% và Hưng Yên là 2,43%). Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025, Quảng Ninh là tỉnh dẫn đầu cả nước với tốc độ tăng 11,89%, tiếp đến là thành phố Hải Phòng (11,81%), Ninh Bình, Bắc Ninh đều tăng trưởng trên 10%, thành phố Hà Nội đứng thứ 16 cả nước với tốc độ tăng trưởng 8,16%.

Với đà tăng trưởng tích cực tiếp tục được duy trì đến nay, đặc biệt là trong 6 tháng đầu năm 2026, có 5/6 địa phương của vùng đạt mức tăng GRDP trên 10%, gồm Ninh Bình 11,44%, Hải Phòng 11,33%, Quảng Ninh 11,11%, Hưng Yên 10,72% và Bắc Ninh 10,56%; Hà Nội tăng 8,22%, nhỉnh hơn mức tăng GDP 8,18% của cả nước, là mức tăng cao nhất trong 10 năm gần đây, tạo nền tảng để Hà Nội tăng tốc thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP 11% trở lên trong năm 2026. Kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò của đồng bằng sông Hồng như một cực tăng trưởng quan trọng, với các trung tâm nổi bật về dịch vụ, công nghiệp chế biến - chế tạo, công nghệ cao và logistics.

Từ ngày 1-7-2025 đến nay, sau sắp xếp đơn vị hành chính, khả năng duy trì vai trò dẫn dắt sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng liên kết hạ tầng, chuỗi cung ứng, công nghiệp hỗ trợ, nguồn nhân lực và mức độ lan tỏa công nghệ từ khu vực FDI sang doanh nghiệp trong nước. Với lợi thế so sánh và những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội, vùng đồng bằng sông Hồng ngày càng khẳng định vai trò là: 1- Cửa ngõ kết nối chiến lược: Hải Phòng và Quảng Ninh là những trung tâm kinh tế biển lớn(2); hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh giữ vai trò huyết mạch trong giao thương Việt Nam - Trung Quốc và ASEAN - Trung Quốc. Hải Phòng - Quảng Ninh - Hưng Yên mới, với việc sáp nhập Thái Bình, tạo ra không gian logistics mới, góp phần nâng cao năng lực kết nối quốc gia; 2- Vai trò dẫn dắt tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước, vốn FDI thu hút chiếm gần 50% của cả nước, vùng là trung tâm của công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử và công nghiệp cơ khí chế tạo hiện đại, với sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia lớn và các doanh nghiệp dân tộc dẫn dắt. Qua đó, các cụm liên kết ngành từng bước được hình thành, tạo điều kiện chuyển từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển kinh tế số và xã hội số theo định hướng của Nghị quyết số 30-NQ/TW; 3- Vai trò trung tâm văn hóa - lịch sử và an sinh xã hội: vùng sở hữu một “trục di sản” phong phú như Tràng An - Bái Đính - Tam Chúc - Phủ Dầy - Đền Trần, có vai trò giữ gìn bản sắc văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời phát huy văn hóa như một nguồn lực phát triển kinh tế. Với mạng lưới dày đặc các trường đại học, viện nghiên cứu đầu ngành tập trung tại Hà Nội, vùng cũng là trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, có điều kiện xây dựng một số ngành đào tạo mũi nhọn đạt trình độ khu vực và thế giới. Trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất đòi hỏi không gian kinh tế rộng lớn hơn không gian hành chính cũ, từng bước phá vỡ rào cản địa giới hành chính. Các chuỗi cung ứng hiện đại không còn nằm gọn trong một tỉnh mà tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau về nguyên liệu, bán thành phẩm và công nghệ giữa các địa phương, khiến liên kết trở nên ngày càng quan trọng. Không một địa phương nào, kể cả Hà Nội, có đủ nguồn lực để phát triển khép kín, do đó cần thiết phải có liên kết vùng để khai thác tối đa lợi thế so sánh.

Cùng với đó, việc phân vai chức năng rõ nét giữa các địa phương tạo cơ sở cho liên kết và bổ trợ lẫn nhau như: Hà Nội có lợi thế về khoa học - công nghệ, dịch vụ cao cấp và thị trường tài chính, thành phố Hải Phòng và thành phố Quảng Ninh có lợi thế về cảng biển và logistics quốc tế; tỉnh Hưng Yên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Ninh Bình có lợi thế về quỹ đất sản xuất và nguồn nhân lực. Thành phố Hà Nội cần cửa ngõ ra biển của thành phố Hải Phòng để xuất khẩu; ngược lại, thành phố Hải Phòng cần nguồn hàng và dịch vụ tài chính từ thành phố Hà Nội. Sự bổ sung này là cần thiết cho kết quả hợp tác, thay vì cạnh tranh triệt tiêu lẫn nhau. Liên kết vùng, góp phần khắc phục những “rào cản” do tư duy kinh tế địa phương, tình trạng chia cắt không gian kinh tế thành các mảnh ghép rời rạc, tạo ra những “điểm nghẽn” mà từng địa phương riêng lẻ khó có thể giải quyết. Nghị quyết số 30-NQ/TW đã xác định rõ liên kết vùng phải trở thành “tư duy chủ đạo”, dẫn dắt sự phát triển. Mối quan hệ giữa các địa phương trong vùng đồng bằng sông Hồng được đặt trong yêu cầu hợp tác, bổ trợ và cùng phát triển, đòi hỏi một cơ chế điều phối ở cấp độ cao hơn cấp tỉnh, nhưng linh hoạt hơn cấp quốc gia.

Thực trạng liên kết vùng đồng bằng sông Hồng

Thứ nhất, về hạ tầng giao thông: Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa biểu tượng cho liên kết vùng. Tuyến đường dài 112,8km, đi qua Hà Nội (58,2km), Hưng Yên (19,3km), Bắc Ninh (25,6km), với tổng mức đầu tư khoảng 85.813 tỷ đồng. Dự án được triển khai theo 7 dự án thành phần, vận hành độc lập, do ủy ban nhân dân 3 tỉnh: thành phố Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, thành phố Bắc Ninh được giao làm cơ quan chủ quản. Tại thành phố Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên, công tác giải phóng mặt bằng được triển khai quyết liệt; chính quyền địa phương đã hoàn thành việc di dời mồ mả, xây dựng khu tái định cư để bàn giao mặt bằng sạch cho đơn vị thi công, hoàn thành các hạng mục năm 2025.

Tuy nhiên, tiến độ một số dự án hạ tầng giao thông liên vùng vẫn còn chậm (dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô và dự án nâng cấp tuyến vận tải thủy sông Đuống). Hệ thống hạ tầng năng lượng và viễn thông chưa thật sự đồng bộ, mạng lưới điện truyền tải liên tỉnh chưa được nâng cấp tương xứng với sự mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp FDI tại các khu công nghiệp công nghệ cao, chất lượng điện năng không ổn định, ảnh hưởng đến khả năng thu hút các ngành công nghiệp có yêu cầu cao như bán dẫn.

Thứ hai, về cảng biển và logistics: Vùng đồng bằng sông Hồng là thị trường tiềm năng đối với ngành logistics, giữ vai trò cầu nối và cửa ngõ phía Bắc Việt Nam và ASEAN trong kết nối kinh tế, thương mại và giao lưu quốc tế. Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển Hải Phòng và Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển lớn(3). Trục cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Móng Cái đã hoàn thành, rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội đến cửa khẩu quốc tế Móng Cái xuống còn hơn 3 giờ, tạo tuyến kết nối quan trọng giữa thị trường Trung Quốc với cảng biển quốc tế Lạch Huyện, nâng cao lợi thế logistics của toàn vùng. Mặc dù vậy, logistics vẫn là một trong những lĩnh vực còn nhiều “điểm nghẽn”. Quỹ đất dành cho kho hàng, kho bãi, trung tâm vận chuyển hàng hóa và trung tâm logistics còn hạn chế; vốn đầu tư của doanh nghiệp chưa cao. Hệ thống đường sắt kết nối cảng biển còn lạc hậu, chưa san sẻ được gánh nặng vận tải, khiến chi phí logistics cao hơn so với một số nước trong khu vực. Các cảng cạn khu vực phía Bắc chưa kết nối hiệu quả với cảng biển, quy mô khai thác còn nhỏ và thiếu trang thiết bị xếp dỡ chuyên dụng. Sự liên kết, hợp tác giữa các địa phương trong vùng vì vậy chưa thật sự chặt chẽ, hiệu quả còn thấp.

Thứ ba, liên kết công nghiệp và chuỗi cung ứng: Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã thúc đẩy thỏa thuận kết nối kinh tế giữa các địa phương như: Hải Phòng - Quảng Ninh - Hưng Yên, tạo nên trục công nghiệp động lực phía Đông. Với lợi thế về cảng biển quốc tế tại Hải Phòng, cửa khẩu trên bộ và trên biển tại Quảng Ninh, sân bay quốc tế và nguồn nhân lực dồi dào tại Hải Phòng, Hưng Yên; sự liên kết giữa các địa phương đã tạo điều kiện chuyển từ cạnh tranh thu hút FDI đơn lẻ sang hợp tác, hình thành chuỗi cung ứng và tận dụng lợi thế của từng địa phương. Từ liên kết đó, hệ sinh thái công nghiệp ô tô và điện tử, logistics từng bước được hình thành, củng cố vị thế của siêu cụm công nghiệp và tạo quỹ đất cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Theo quy hoạch khu công nghiệp đến năm 2030, thành phố Hải Phòng có 46 khu công nghiệp, với tổng diện tích gần 12 nghìn héc-ta, tạo điều kiện hình thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, giảm chi phí logistics và nâng cao hiệu quả vận hành. Thành phố Hải Phòng tập trung vào công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí - ô tô, công nghiệp cảng và logistics...(4).

Tuy nhiên, sự thay đổi về tương quan phát triển sau sắp xếp đơn vị hành chính, với sự xuất hiện của những đơn vị có quy mô kinh tế lớn như Hải Phòng mở rộng, Bắc Ninh mở rộng, cũng đặt ra yêu cầu mới đối với cơ chế liên kết. Các địa phương có thể có xu hướng xây dựng những hệ sinh thái phát triển tương đối khép kín, tự hoạch định chiến lược riêng, từ đó làm suy giảm động lực liên kết vùng. Đồng thời, quá trình triển khai quy hoạch vùng trong bối cảnh sáp nhập hành chính quy mô lớn có thể phát sinh độ trễ trong kiện toàn tổ chức bộ máy, ảnh hưởng đến tiến độ các quyết định đầu tư liên tỉnh và dự án hạ tầng kết nối.

Thứ tư, liên kết du lịch, thương mại và sản xuất nông nghiệp: Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, không gian du lịch vùng đồng bằng sông Hồng có những thay đổi đáng kể, tạo điều kiện chuyển từ các điểm đến tương đối rời rạc sang các quần thể du lịch quy mô lớn, có tính liên kết cao. Sự hợp tác giữa Hà Nội - Quảng Ninh - Ninh Bình đã góp phần hình thành thương hiệu du lịch mạnh của miền Bắc. Các cơ quan quản lý du lịch thường xuyên tổ chức hội nghị xúc tiến chung, xây dựng các gói sản phẩm liên tuyến, chia sẻ dữ liệu du khách và phối hợp quản lý chất lượng dịch vụ.

8-1793694041.jpg
Với lợi thế sẵn có về cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa và lễ hội truyền thống đặc sắc, đồng bằng sông Hồng luôn được xác định là vùng du lịch trọng điểm chiến lược khu vực phía Bắc (Trong ảnh: Khu du lịch sinh thái Tràng An, Ninh Bình)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Trong sản xuất nông nghiệp, Hà Nội với dân số lớn giữ vai trò thị trường tiêu thụ; các tỉnh như Ninh Bình, Hưng Yên... có thế mạnh về vùng nguyên liệu. Hải Phòng và các địa phương Nam đồng bằng sông Hồng đã ký kết chương trình phối hợp kiểm soát an toàn thực phẩm. Các sản phẩm OCOP, rau vụ đông chất lượng cao của Hải Phòng, Ninh Bình được đưa vào hệ thống siêu thị và bếp ăn tập thể tại các khu công nghiệp, đô thị lớn thông qua các hợp đồng bao tiêu. Quảng Ninh và các địa phương cũng thúc đẩy liên kết trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, chia sẻ tiến bộ về giống và quy trình canh tác hữu cơ.

Thứ năm, hạn chế về điều phối vùng, môi trường và nguồn nhân lực: Một trong những hạn chế lớn của liên kết vùng là năng lực điều phối chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. Hội đồng Điều phối vùng còn hạn chế về quyền lực, thiếu công cụ tài chính và chưa có nguồn lực riêng để chủ động đầu tư các dự án liên tỉnh. Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính, việc thực hiện Quy hoạch vùng cũng cần được rà soát, điều chỉnh và khớp nối với không gian phát triển mới.

Môi trường là lĩnh vực thể hiện rõ những hạn chế của liên kết vùng, bởi các dòng sông và luồng không khí không tuân theo ranh giới hành chính. Ô nhiễm nguồn nước tại hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải và lưu vực sông Nhuệ - Đáy vẫn là bài toán khó giải quyết. Nước thải từ thượng nguồn từ thành phố Hà Nội ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt của các tỉnh hạ nguồn như Ninh Bình, trong khi cơ chế phối hợp, xử lý và chia sẻ trách nhiệm giữa các địa phương chưa thật sự hiệu quả. Sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp tại Bắc Ninh và Hải Phòng sau sắp xếp đơn vị hành chính tạo sức hút lao động lớn, kéo theo những hệ lụy xã hội. Dòng lao động dịch chuyển từ các vùng nông nghiệp thuộc Hưng Yên, Ninh Bình về các trung tâm công nghiệp gây thiếu hụt lao động cục bộ tại nơi đi và tạo áp lực lên hạ tầng xã hội tại nơi đến. Tại Hải Phòng, hệ thống y tế khu vực sau sắp xếp còn đối mặt với tình trạng quá tải, trong khi một số cơ sở y tế vùng ven có cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng nhu cầu. Tại Bắc Ninh, nhà ở cho số lượng lớn công nhân, lao động trong các khu công nghiệp vẫn là thách thức, dẫn đến sự hình thành các khu nhà trọ tự phát, chất lượng sống thấp(5). Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực giữa thành phố Hà Nội và các địa phương còn chênh lệch đáng kể. Xu hướng lao động chất lượng cao tập trung về Hà Nội có thể làm gia tăng tình trạng “chảy máu chất xám” ở các địa phương vệ tinh, ảnh hưởng đến khả năng phát triển cân bằng và khai thác hiệu quả nguồn nhân lực trong toàn vùng.

Như vậy, liên kết vùng đồng bằng sông Hồng đã hình thành trên nhiều lĩnh vực và bước đầu phát huy lợi thế bổ trợ giữa các địa phương. Tuy nhiên, liên kết vẫn chưa thật sự chặt chẽ, còn chịu tác động của tư duy phát triển theo địa giới hành chính, thiếu cơ chế điều phối đủ mạnh và nguồn lực cho các dự án liên vùng. Những hạn chế về hạ tầng, logistics, môi trường, an sinh xã hội và nguồn nhân lực cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế điều phối và chính sách liên kết vùng, phù hợp với không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính.

Quan điểm của Đảng về phát triển liên kết vùng đồng bằng sông Hồng thời gian tới

Một là, chuyển từ tư duy phát triển địa phương sang tư duy phát triển vùng với tư cách một chỉnh thể kinh tế - xã hội: Cùng với quá trình đổi mới, quan điểm của Đảng về phát triển vùng đồng bằng sông Hồng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, chuyển từ cách tiếp cận cục bộ, hành chính sang cách tiếp cận tổng thể, dựa trên không gian kinh tế và quy luật thị trường; coi liên kết vùng là động lực quan trọng để khai thác tiềm năng, thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Nếu Nghị quyết số 54-NQ/TW, ngày 14-9-2005, của Bộ Chính trị khóa IX và Kết luận số 13-KL/TW, ngày 28-10-2011, của Bộ Chính trị khóa XI chủ yếu xác lập vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng và định hướng phát triển vùng đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 23-11-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28-8-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới” đã thể hiện bước chuyển căn bản: Xây dựng đồng bằng sông Hồng trở thành một không gian phát triển thống nhất, có liên kết, điều phối và năng lực dẫn dắt chuyển đổi mô hình tăng trưởng của cả nước. Xác định liên kết phát triển vùng là xu thế tất yếu, là động lực kết nối và dẫn dắt phát triển; đồng thời yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách mang tính đột phá, nâng cao hiệu quả điều phối trong quy hoạch, phát triển hạ tầng, xúc tiến đầu tư, xử lý các vấn đề môi trường nội vùng, liên vùng và phát triển các cụm liên kết ngành; nghiên cứu cơ chế cho phép các địa phương sử dụng ngân sách địa phương đầu tư các dự án vùng, liên vùng. Đây là bước tiến quan trọng về tư duy thể chế, nhằm khắc phục tình trạng nguồn lực và lợi ích phát triển bị giới hạn trong địa giới hành chính.

Hai là, tổ chức lại không gian phát triển theo cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và chuỗi giá trị: Nghị quyết số 30-NQ/TW định hình rõ hơn cấu trúc phát triển vùng, trong đó vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là đầu tàu, tam giác động lực Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh là hạt nhân lan tỏa; vùng Nam đồng bằng sông Hồng được định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn, công nghiệp bảo quản, chế biến nông sản, năng lượng sạch và kinh tế ven biển. Đồng thời, Nghị quyết xác định các hành lang kinh tế trong nước và quốc tế như hành lang Bắc - Nam; Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; hành lang kinh tế ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình. Qua đó, không gian phát triển vùng được tiếp cận theo dòng chảy nguồn lực, chuỗi cung ứng, liên kết thị trường và kết nối quốc tế, thay vì chỉ là tổng hợp không gian của các tỉnh, thành phố.

Ba là, mở rộng nội hàm liên kết từ kết cấu hạ tầng sang liên kết phát triển tổng hợp, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh: Nghị quyết số 30-NQ/TW đặt mục tiêu xây dựng đồng bằng sông Hồng trở thành vùng phát triển hiện đại, văn minh, sinh thái, đi đầu cả nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và xã hội số; phát triển công nghiệp hiện đại, dịch vụ chất lượng cao và nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, xanh, tuần hoàn. Theo đó, liên kết vùng không chỉ là kết nối giao thông, cảng biển, đô thị mà còn phải hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, mạng lưới sản xuất, chế biến, logistics, thị trường, nhân lực chất lượng cao và quản trị môi trường trên phạm vi toàn vùng.

Bốn là, gắn liên kết vùng với giải quyết các vấn đề phát triển vượt khỏi ranh giới hành chính: Đối với đồng bằng sông Hồng, các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước, chất thải công nghiệp, ngập úng đô thị, suy giảm hệ sinh thái ven biển, bảo tồn cảnh quan và di sản không thể được giải quyết riêng rẽ bởi từng địa phương. Nghị quyết số 30-NQ/TW yêu cầu tăng cường liên kết trong bảo tồn, khai thác và sử dụng tài nguyên, bảo vệ đa dạng sinh học, xử lý các vấn đề môi trường nội vùng, liên vùng và phục hồi môi trường vùng ven biển. Qua đó, liên kết vùng trở thành phương thức hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, gìn giữ văn hóa và nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định yêu cầu đẩy mạnh liên kết vùng, nội vùng; mở rộng, tổ chức lại không gian phát triển phù hợp với hệ thống hành chính mới, đổi mới tư duy từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển vùng và hoàn thiện cơ chế, chính sách điều phối, quản lý phát triển vùng. Theo đó, vùng đồng bằng sông Hồng cần được điều hành trên cơ sở lợi ích chung của toàn vùng, phân công chức năng hợp lý giữa các cực tăng trưởng, tiểu vùng và hành lang kinh tế; đồng thời, hình thành cơ chế huy động, phân bổ, chia sẻ nguồn lực hiệu quả hơn giữa Trung ương và địa phương, giữa các địa phương trong vùng.

Thời gian qua, quan điểm của Đảng và chính sách Nhà nước đối với liên kết vùng đồng bằng sông Hồng là sự chuyển dịch tư duy chiến lược sâu sắc và toàn diện. Từ chỗ phát triển dựa trên lợi thế địa phương riêng lẻ, Vùng đồng bằng sông Hồng đang chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình phát triển tích hợp, lấy liên kết vùng làm động lực chính. Các chính sách của Chính phủ, đặc biệt là việc thành lập Hội đồng điều phối vùng đã tạo ra khung khổ thể chế vững chắc và không gian phát triển mới rộng mở. Với sự đổi mới tư duy về liên kết vùng, vùng đồng bằng sông Hồng hoàn toàn có cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu trở thành vùng phát triển hiện đại, văn minh, sinh thái, là trung tâm giáo dục, khoa học công nghệ và là động lực tăng trưởng không thể thay thế của cả nước vào năm 2030, tầm nhìn 2045./.

TS Trương Thị Mỹ Nhân
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

---------------------

(1) Thu Hiền: “Định hướng xây dựng vùng đồng bằng sông Hồng là động lực phát triển hàng đầu của đất nước”, Tạp chí kinh tế - Tài chính Online, ngày 9-10-2025, https://tapchikinhtetaichinh.vn/dinh-huong-xay-dung-vung-dong-bang-song-hong-la-dong-luc-phat-trien-hang-dau-cua-dat-nuoc-69082.html&link=1

(2) Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 23-11-2022, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

(3) “Thông cáo báo chí về kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, thành phố năm 2025”, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê, ngày 5-1-2026, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-ket-qua-tang-truong-tong-san-pham-tren-dia-ban-grdp-cua-34-tinh-thanh-pho-nam-2025/

(4) Thủ tướng Chính phủ: “Quyết định số 612/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ngày 4-4-2026, https://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217524   

(5) Ban Kinh tế vĩ mô và dự báo: “Bức tranh tăng trưởng của các địa phương trong 6 tháng đầu năm 2026”, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính, ngày 7-8-2026, https://nief.mof.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/buc-tranh-tang-truong-cua-cac-dia-phuong-trong-6-thang-dau-nam-2026-12979.html